Showing posts with label Gương Mặt Doanh Nhân. Show all posts
Showing posts with label Gương Mặt Doanh Nhân. Show all posts

Sunday, July 19, 2009

Những tỷ phú ẩn danh

Họ là những người rất ít khi xuất hiện, cho dù đang sở hữu những công ty, tập đoàn khổng lồ với những sản phẩm nổi tiếng khắp thế giới. Họ có tài sản hàng tỷ USD và đều là thành viên không tầm thường của CLB những người giàu nhất thế giới.

Khi nói đến những người giàu nhất thế giới, cái tên Riley Bechtel có thể chẳng gợi lên điều gì. Nhưng thực tế thì người đàn ông có phần "bí hiểm" này đang sở hữu tài sản khoảng 5,5 tỷ USD, theo thống kê mới nhất của tạp chí Forbes, nhiều hơn cả những tên tuổi vốn "hoành tráng" lâu nay như ông chủ của Yankees, George Steinbrenner III, nữ hoàng truyền hình Oprah Winfrey hay đạo diễn lừng danh Steven Spielberg. Ông là người đứng đầu Tập đoàn công nghiệp Titan Bechtel Corp., tập đoàn tư nhân lớn thứ bảy ở Mỹ, với doanh số bán hàng hằng năm khoảng 27 tỷ USD. Gia đình của ông đã có bốn thế hệ điều hành tập đoàn này.

Take Kjeld Kirk Kristiansen sẽ rất thân quen nếu bạn từng say mê với trò chơi lắp ghép khi còn nhỏ, hẳn bạn đã một lần được nghe đến công ty của gia đình ông. Ông nội của Kristiansen chính là người sáng lập ra công ty đồ chơi xếp hình nổi tiếng Lego của Đan Mạch năm 1932. Từ đó đến nay, các thành viên trong gia đình vẫn tiếp tục duy trì công việc kinh doanh. Ngày nay, mọi người gọi họ là gia đình Lego và công ty là nhà sản xuất đồ chơi lớn thứ 6 thế giới tính theo lượng tiêu thụ. Thành công của công ty đã đem lại cho Kristiansen khoản tài sản cá nhân khổng lồ, khoảng 6,5 tỷ USD.

Một cái tên khác cũng khá xa lạ nhưng ông chính là người đã tạo nên hàng tỷ sản phẩm nổi tiếng thế giới: Jorge Paulo Lemann. Cựu vận động viên quần vợt này giờ hiện là cổ đông chính của hãng đồ uống lớn nhất thế giới, InBev.

Năm 1989, Lemann đầu tư thành công trong lĩnh vực ngân hàng nhưng rồi ông và một đối tác đã mua lại cổ phần trong công ty bia lớn nhất nước Bỉ. Giờ đây, sản phẩm bia của ông như Budweiser, Stella Artois, Beck"s và Michelob đều rất nổi tiếng. Nhờ những thành công của gia đình ông trong thế giới bia, tài sản của ông ước tính khoảng 5,8 tỷ USD.

David Sun hay John Tu dường như cũng không mấy khi được nhắc tới. Nhưng tổng tài sản hiện nay của họ vào khoảng 8 tỷ USD. Và họ là đồng sáng lập của Tập đoàn Công nghệ Kingston. Đây là công ty tư nhân đứng ở vị trí thứ 79 tại Mỹ, tính trên doanh số bán hàng mỗi năm, khoảng 4 tỷ USD. Vì bất kỳ lúc nào bạn mua điện thoại di động, camera hay các thiết bị MP3, đều phải sử dụng những sản phẩm thẻ nhớ của Sun và Tu.

Sau đây là 10 tỷ phú ít được nhắc đến nhất trên thế giới:

Eliodoro Matte, sống tại Santiago (Chile), với tài sản 7,9 tỷ USD. Tập đoàn Empresas CMPC của ông đang nắm giữ hàng triệu ha rừng thông và bạch đàn tại Chile và Argentina. Ông cũng tham gia điều hành hoạt động của trường ĐH Chicago và có cổ phần trong các công ty về viễn thông và ngân hàng

Reinhold Wurth, người Đức, đang sở hữu tài sản 7,7 tỷ USD. Tiếp quản một công ty nhỏ về linh kiện tàu biển từ cha khi mới 19 tuổi. Ngày nay, Wurth Group có doanh thu 12,5 tỷ USD. Công ty cũng đầu tư vào ngân hàng và năng lượng. Con gái ông là Bettina đã tiếp quản công ty kể từ năm ngoái. Wurth có bằng lái máy bay, thích cưỡi xe Harley-Davidson và có một bộ sưu tập lớn các tác phẩm nghệ thuật.

Americo Amorim, sở hữu 7 tỷ USD, đang sống ở Grijo (Bồ Đào Nha), là ông hoàng của các loại nắp chai. Ông đã có công biến một nhà máy sản xuất nắp chai nhỏ do ông nội sáng lập năm 1870 thành một Tập đoàn lớn nhất thế giới, Corticeira Amorim. Hiện ông còn đầu tư cả bất động sản và du lịch, tài chính, ngân hàng. Không còn tham gia vào hoạt động kinh doanh, nhưng ông vẫn là người nắm quyền sở hữu 50%. Ông đang sở hữu những khu đất ở phía nam Brazil để chuẩn bị cho các kế hoạch phát triển du lịch.

Sammy Ofer, đang sống tại Tel Aviv (Israel) sở hữu tài sản 6,7 tỷ USD. Ông sinh ra trong một gia đình người Israel nhưng có nguồn gốc Romania. Hầu như ông không bao giờ xuất hiện trước báo chí. Nhưng mọi người biết đến ông là thành viên trong gia đình hiện điều hành một hãng vận tải đường biển khổng lồ. Ngoài ra, ông còn tham gia đầu tư vào lĩnh vực ngân hàng và bất động sản. Gia đình ông cũng có cổ phần trong Royal Caribbean, hãng vận tải đường biển lớn thứ hai thế giới.

Kjeld Kirk Kristiansen, tài sản 6,5 tỷ USD, đang sống ở Billund (Đan Mạch), là cháu trai của người sáng lập ra hãng đồ chơi xếp hình nổi tiếng - Lego. Ông đã tham gia vào hoạt động điều hành công ty trong 25 năm và mới nghỉ ngơi từ 2004. Tuy nhiên, hiện ông vẫn là Phó chủ tịch Hội đồng Quản trị của Công ty. Lego hiện được coi là hãng sản xuất đồ chơi đứng thứ 6 thế giới, với doanh số 1,5 tỷ USD.

Jorge Paulo Lemann sở hữu tài sản 5,8 tỷ USD, đang sống ở Sao Paulo (Brazil). Tỷ phú từng hoạt động trong lĩnh vực ngân hàng này lại đang say mê với những loại bia do chính các công ty của ông làm ra như Budweiser, Stella Artois, Beck"s & Michelo. Thành công đầu tiên của ông là đầu tư tại ngân hàng Banco Garantia, do ông sáng lập năm 1971 và năm 1998 bán cho Credit Suisse First Boston với giá 675 triệu USD. Ông đã hợp tác với chính người từng cùng ông đầu tư trong lĩnh vực ngân hàng để cho ra đời công ty sản xuất bia đầu tiên, tại Bỉ. Ông còn là một vận động viên tennis và từng chơi tại giải Grand Slam danh giá nhất thế giới, Wimbledon.

Riley Bechtel, đang sở hữu tài sản 5,5 tỷ USD, hiện sống tại San Francisco, California (Mỹ), là người đứng đầu tập đoàn công nghiệp đã tồn tại qua 4 thế hệ Bechtel Corp.. Riley bắt đầu công việc của một thợ máy từ năm 14 tuổi nhờ vài công việc làm thêm. Năm 1990, ông ở thành Giám đốc điều hành kiêm Chủ tịch Tập đoàn.

David Sun, tài sản 4 tỷ USD, hiện sống tại quận Cam, bang California (Mỹ). Sun rời Đài Loan đến Mỹ từ năm 1977, làm kỹ sư chính cho Alpha Micro. Ông cùng với John Tu là đồng sáng lập Tập đoàn công nghệ Kingston năm 1987.

John Tu, tổng tài sản 4 tỷ USD, đang sinh sống tại thành phố Los Angeles, bang California (Mỹ). Ông theo học ngành kỹ thuật ddienj tại Đức sau khi gia đình rời khỏi Trung Quốc năm 1949. Cùng với David Sun, ông cũng là người sáng lập ra Kingston Technology năm 1987.

Aliko Dangote, tổng tài sản trị giá 3,3 tỷ USD, đang sống ở Lagos (Nigeria) được coi là tỷ phú đầu tiên của quốc gia châu Phi này. Aliko Dangote bắt đầu được chú ý khi công ty chế biến đường của ông lên sàn chứng khoán Nigeria năm ngoái. Ông khởi nghiệp kinh doanh từ năm 21 tuổi, với nguồn vốn nhỏ mượn từ chú ruột. Sau này, ông đã xây dựng Tập đoàn Dangote Group của riêng mình và đầu tư, mở rộng kinh doanh ở các lĩnh vực sản xuất thực phẩm như đường, bột mỳ, muối, sau đó là xi măng, dệt may, bất động sản và dầu mỏ. Ông có mối quan hệ rất khăng khít với cựu tổng thống Nigeria là Olusegun Obasanjo.

(Theo VnExpress)

Tỷ phú Pháp Bernard Tapie: "Kẻ phiêu lưu lớn nhất cuối thế kỷ XX”

Đúng vào thời điểm thế giới dường như đang bị chìm sâu hơn vào cuộc khủng hoảng tài chính kinh tế, ngôi sao chiếu mệnh của tỉ phú Pháp Bernard Tapie lại bừng sáng – con người từng trải qua đủ cảnh thăng trầm trong sự nghiệp đang tìm kiếm cơ hội phát quang trong những khó khăn chung.

Thua keo này bày keo khác, kể cả nhà giam hay nguy cơ cận kề phá sản đều đã không thể bẻ gãy ý chí vươn lên của doanh nhân khét tiếng này. Mùa hè năm 2009, Tapie lại buộc các phương tiện thông tin đại chúng chú ý khi ông trở về với những công việc lớn như bá tước Monte Cristo tràn trề khát vọng rửa hận.

Thị trường chứng khoán Paris trong thời gian này dường như đã sáng rực lên nhờ những phi vụ làm ăn của ông.

Theo tạp chí Nga Itogi, ông Bernard Tapie được đánh giá như một trong những nhân vật đa sắc và hấp dẫn nhất của thương trường châu Âu. Chính phủ Pháp vừa quyết định không bãi bỏ quyết định của toà án trọng tài tư nhân về vụ việc của Tapie và đồng ý bồi thường cho doanh nhân kiêm chính trị gia này 285 triệu euro.

Với “phần thưởng” đó, ông Tapie người từng được mệnh danh là “kẻ phiêu lưu lớn nhất cuối thế kỷ XX”, hoàn toàn có thể trở lại đội ngũ những người giàu nhất “lục địa cũ”.

Làm gì cũng được

Cái họ Tapie trong tiếng Pháp đồng âm với từ “tapis” (cái thảm). Điều này từng được các phương tiện thông tin đại chúng tận dụng không chỉ một lần khi viết về Tapie. Doanh nhân này được các phóng viên miêu tả như kẻ bay trên “thảm bay” cổ tích, vùn vụt tới làm náo động cả thương trường “nền cộng hoà đệ ngũ” và tiện thể cả chính trường lẫn thế giới thể thao.

Thực tế đã chứng minh, Bernard Tapie đã có lúc giống như một viên đạn thần công, có thể khoan thủng bất cứ bức tường nào. Tai hoạ chỉ ở chỗ: nhiều khi ông đã không biết dừng lại đúng lúc. Lẽ đời, muốn thành đạt chỉ cần ở đúng nơi vào đúng lúc. Bernard Tapie bắt đầu giai đoạn trưởng thành vào đúng cái gọi là “thời đại FranCois Mitterand”, làm vỡ tan tành những định kiến đẳng cấp và củng cố trong lòng “nước Pháp dịu dàng” quyền lực của kim tiền.

Tự bản thân Tapie đã biết chọn cho mình đúng chỗ giữa cái xã hội mang hơi hướng dân chủ xã hội của người Pháp lúc đó. Ông Tapie là con trai của những người Tây Ban Nha nhập cư, sinh năm 1943 trong quận 12 bình dân của Paris.

Với thành phần xuất thân này, lại chỉ có kết quả bình thường trong trường trung học, Tapie dĩ nhiên là đã không thể mong lọt được vào những trường đại học danh giá ở Paris nên đành phải đi học nghề kỹ sư điện. Tuy nhiên, ngay từ khi đó, chàng trai trẻ nhiều tham vọng đã say mê một nguồn điện khác…

Những năm 60 của thế kỷ XX ở nước Pháp đã sản sinh ra hàng loạt những thần tượng mới của giới trẻ: trong những giai điệu nóng bỏng nhập từ bên kia Đại Tây Dương vào nhảy múa la hét ầm ĩ là những Johnny Halliday, Sylvie Vartan, Richard Anthony… Và Bernard Tapie, chưa bao giờ bị mặc cảm về sự kém cỏi của cá nhân mình, đã tràn trề quyết tâm trở thành một trong số những thần tượng của thế hệ mới. Và Tapie đã ghi âm một đĩa hát với những ca khúc ăn khách của giai đoạn lãng mạn ấy, trong đó có cả bài hát cực kỳ phổ cập của Luck Plamondon và Michel Berger trích từ vở Opera rock “Starmania”.

Giờ đây, khi nửa thế kỷ đã trôi qua, đĩa hát đấyđã trở nên rõ ràng hơn thông điệp, hay nói đúng hơn, cả một chương trình hành động, từ đĩa hát ấy: “Tôi rất muốn biểu diễn tiết mục chết người dưới vòm rạp xiếc. Tôi rất muốn bước ra sân khấu trong tiếng vỗ tay vang dội mà vẫn được sống như một người tự do chủ nghĩa hay một triệu phú dọc ngang nào biết trên đầu có ai”.

Tên gọi của đĩa hát cũng mang tính tuyên ngôn: “Hoài khúc của doanh nhân”. Thực tế cho thấy, Bernard Tapie đã không chỉ trở thành một doanh nhân mà thật ra là một nghệ sĩ xiếc trong kinh doanh theo đúng nghĩa đen của từ này.

Cái đĩa hát mà trên bìa của nó in hình Tapie trong vai một tay đua ôtô, đã bị ế hàng. Thế là chàng trai đã buộc phải đi làm những việc ít mang tính sáng tạo hơn: đứng bên quầy bán máy thu hình. Khi đó, máy thu hình giá rất cao và các khách hàng Pháp không dễ dàng nới hầu bao để mua.

Và chàng trai trẻ đã nảy ra sáng kiến: chở máy thu hình trên một chiếc xe nhỏ tới từng nhà một ở vùng ngoại ô Paris mời, không phải mua – làm thế thì tầm thường quá – nhận lấy máy thu hình không mất tiền trong một hai tuần dường như để tham gia vào một cuộc thăm dò xã hội nào đó với lý do là hãng sản xuất ra chúng cần biết ý kiến của khán giả về chất lượng các chương trình truyền hình.

Dĩ nhiên là thử rồi thích, đại đa số những người mượn tạm các máy thu hình đó không muốn chia tay với chúng và đã rút tiền ra trả cho chàng trai láu lỉnh. Máy thu hình đã được Tapie bán chạy như tôm tươi. Và chỉ sau một năm, ăn nên làm ra, Tapie đã trở thành chủ nhân của chính cửa hàng mà trước đó, ông đã là người làm thuê. Sự nghiệp tỉ phú của ông đã bắt đầu như thế.

Phóng viên tạp chí Nga Itogi kể: Cuối những năm 90 của thế kỷ trước, giai đoạn vàng son của Tapie, tỉ phú Pháp đã tâm sự với nhà báo rằng: “Điều quan trọng không phải là có mặt mà là làm ra vẻ có mặt”. Nhận xét về nhà văn ăn khách Paul – Loup Sulizer, tác giả của những best-seller về tài chính, Tapie nói: “Ai cũng biết có những người viết thuê cho Sulitzer. Nhưng thế thì đã sao? Một nhà văn giỏi có thể thậm chí không cần biết nội dung các cuốn sách mang tên tác giả là mình, nhưng chắc chắn phải cần biết bán sách cho chạy. Thế này nhé, mới đây có người mời tôi mua một tờ báo. Tôi cần tờ báo làm gì nếu tôi có thể mua nhà báo rẻ hơn! Người ta bây giờ tự đến tìm tôi vì tôi đã trở thành thương hiệu!”.

Khi đó Tapie đang làm chủ Công ty Bernard Tapie Finances (BTF) với trụ sở đặt ở đại lộ Elysee. Cái đặc biệt của BTF là ở chỗ, nó với giá tượng trưng (đôi khi chỉ là 1 quan) sẵn sàng mua bất cứ một doanh nghiệp đang bên bờ vực phá sản nào để rồi sau đó bán lại chúng cho các chủ nhân ông khác. Công nghệ có vẻ như không phức tạp, nhưng luôn đòi hỏi sự khéo léo khôn cùng. Trước tiên, Tapie yêu cầu công ty mà ông định mua phải sa thải toàn bộ nhân viên – không có lý do gì mà lại đối mặt với các công đoàn hay Bộ lao động.

Tiếp theo, ông sẽ tìm cách giúp cho công ty làm ăn có lãi, thường là chỉ trên giấy tờ. Rồi ông bán nó đi và thu lãi về… Bằng cách này, Tapie đã bán được Công ty Leclanche/Wonder (chuyên sản xuất pin) với số tiền là 470 triệu quan, Công ty Donnay (làm vợt tennis) với số tiền lãi 100 triệu quan, công ty làm các thực phẩm sạch La Vie Claire, các công ty Teraillon, Manufrance, Look Cycle (lời tới 260 triệu quan)… Mỗi một phi vụ mua đi bán lại của Tapie đều diễn ra kèm theo những chuyện ầm ĩ.

Thí dụ, dưới nhãn hiệu La Vie Claire đã xuất hiện một trong những đội đua xe đạp hay nhất của giải de France mà đứng đầu là những vận động viên lừng danh Bernard Hinault và Greg Le Mond. Vị Tổng thống của đảng xã hội FranCois Mittenrand, mơ ước lập ra một đội ngũ doanh nhân đối lập với các ông hoàng doanh nghiệp than và thép của tướng De Gaulle đã cung cấp nhiều đặc quyền cho thế hệ các doanh nhân thiên tả mới mà Bernard Tapie là đại diện với vóc người cao lớn, nước da luôn cháy nắng và rất lợi khẩu.

Bảo lãnh chắc chắn cho các thương vụ của ông Tapie là ngân hàng Crédit Lynnais, khi đó còn nằm dưới quyền quản lý của nhà nước. Tonton (ông bác, danh từ mà người Pháp dùng để gọi Tổng thống Mitterand một cách thân mật) rất chiều chuộng những người mà ông yêu thích và Tapie là một trong số đó: “Nếu muốn thành đạt, hãy dệt cho đời mình nhiều huyền thoại” – đó là khẩu hiệu của Tapie.

Trước mặt khách, bao giờ ông cũng có phong cách diễn rất bắt mắt: tư thế đàng hoàng, phì phèo xì gà, thỉnh thoảng chiêu một chụm cônhắc ngon lành. Ông khoe: “Tôi ngày nào cũng nghĩ ra được một ý tưởng thiên tài… Có lần, những người Australia tới chỗ tôi. Họ bảo: nước tôi thu hoạch nho tuyệt vời. Nhưng nấu rượu thì lại bị chua… Tôi mới bảo họ: hãy nghĩ cách gì đó độc đáo đi! Hãy làm dầu thực vật từ hạt nho. Và thế là họ đã làm theo lời khuyên của tôi và bây giờ thì họ đã nhấn chìm châu Âu bằng dầu hạt nho của mình. Nhờ tôi mà họ mới được thế!…”.

Khiêm tốn là một đức tính xa lạ với Tapie. Tất cả các tác giả viết tiểu sử của Tapie đều nhất loạt khẳng định rằng, bản quyền của ông trong lĩnh vực dầu hạt nho chỉ là một điều giả tưởng! Nhưng cũng có không ít điều mà ông Tapie khoe là sự thật, thí dụ như vụ mua Hãng Adidas. “Trước khi mua Adidas, tôi là triệu phú. Sau khi mua nó, tôi là tỉ phú” - Tapie khoe. Quả thực đó là một thương vụ đầy hấp dẫn. Năm 1987, sau khi Horst Dassler, con trai của người sáng lập ra Adidas, qua đời, công ty này đã được bán cho người Pháp với giá tương đối rẻ: 390 triệu USD. Phần lớn số tiền này là do các khoản vay của các ngân hàng nhà nước Pháp. Tapie hứa hẹn sẽ đổ vào Adidas ít nhất là 100 triệu USD nhưng ông đã không vội làm việc này.

Năm 1993, theo yêu cầu của Tapie, ngân hàng Crédit Lyonnais bắt đầu đi tìm người mua lại Adidas. Và tìm thấy trong ngân hàng con của mình: Socite de Banque Occidentale. Tapie nhận được số tiền mà ông yêu cầu và sau mọi thanh toán “ân oán giang hồ” đã thu được món lời cho BTF lên tới 320 triệu euro, nếu đổi thành tiền hiện nay.

Tuy nhiên, hai năm sau, khi Socite de Banque Occidentale bán Adidas cho tỉ phú Pháp Robert – Louis Dreyfus với giá cao gấp đôi lúc mua (710 triệu euro) thì Tapie lại tỏ ra công phẫn, coi như mình bị qua mặt. Thực ra, Socite de Banque Occidentale đã làm theo cái cách mà ông Tapie vẫn làm… Thế nhưng, Tapie đã lớn tiếng đòi được đền bù vì coi mình bị lừa nên cuối cùng, ông đã được chính phủ Pháp trả cho 285 triệu euro để giờ đây ông lại bắt đầu đoạn đời mới.

Ông vua bóng đá

Trong trí nhớ của hậu thế, có lẽ ông Tapie sẽ không chỉ hiện lên như một doanh nhân khôn khéo và thành đạt. Trước câu hỏi: “Ông Tapie là ai?”, có lẽ phải già nửa số người Pháp sẽ đáp: “Đó là người lập nên câu lạc bộ bóng đá Olypique de Marseille”. Quả thực, sau khi trở thành chủ nhân ông của đội bóng chỉ trong một thời gian ngắn, ông đã biến nó thành một tên tuổi có hạng trong làng túc cầu châu Âu. Ông đã dồn vào đó không chỉ 35 triệu USD và cả trái tim mình. Chính nhờ ông mà ở Marseille đã có mặt những ngôi sao sân cỏ như Jean-Pierre Papin, Eric Cantona, Didier Deschamps, Marcel Desailly, Chris Waddle, Fabyen Bartez, Abedi Pelé…

Trong giai đoạn từ năm 1989 tới năm 1992, đội bóng của Marseille đã liên tục vô địch nước Pháp và năm 1993, đã đoạt cúp vô địch châu Âu trước cả đội Milano, làm cả nước Pháp cuồng nhiệt… Và Tapie trong lòng người hâm mộ đã trở thành nhà tổ chức chính của vinh dự này. Tuy nhiên, sau đó đã xảy ra vụ tai tiếng mua chuộc đối thủ và cảnh sát đã phát hiện ra cả một hệ thống tinh vi do Tapie lập ra để mang về thêm chiến thắng cho đội bóng của mình.

Và dù rất hùng biện nhưng Tapie đã không thể xoá tội của mình và sau này, đành biện hộ: “Tôi gian dối nhưng với những động cơ trong sáng!”. Rốt cuộc là Tapie phải nộp phạt 200 nghìn quan và vào tù 8 tháng, còn đội Marseille đã bị tước danh hiệu vô địch và bị đẩy xuống hạng hai!

Sau vụ việc này, đế chế của Tapie đã bị sụp đổ trong giây lát như lâu đài trên cát. Năm 1994, vợ chồng ông đã phải tuyên bố phá sản và bán đi các của nả có được. Hoạ vô đơn chí, khi bán du thuyền 74 mét Forcea,Tapie đã bị buộc tội trốn thuế và phải vào tù 6 tháng.

Không nhụt chí, hết hạn tù, Tapie chuyển sang nghề diễn viên và rất thành công trong vai viên cẩm ở một bộ phim truyền hình nhiều tập ăn khách…

Hiện nay, nhận được từ nhà nước Pháp 300 nghìn euro, Bernard Tapie dự định sẽ mua công ty du lịch Club Mediterranee. Ông tự tin “Tên họ tôi là cơ sở thành công. Tôi đủ đồng minh để làm một cuộc cách mạng nữa!”. Chúng ta hãy chờ xem…

(Theo ANTG)

8 tỷ phú thời trang giàu nhất thế giới

Những ông trùm ngành thời trang chính là người quyết định chúng ta sẽ mặc gì, mua ở đâu và loại túi, giày nào nên đi cùng cho phù hợp. Tài sản của họ, theo thống kê mới nhất, vẫn tiếp tục tăng đều đặn trong suy thoái.

1. Bernard Arnault - Công ty LVMH

Theo thống kê do Forbes công bố hôm 16/7, người giàu nhất ngành thời trang, và cũng đứng đầu nước Pháp là Bernard Arnault, ông chủ của những thương hiệu nổi tiếng nhất thế giới. Với tài sản ròng đạt 16,5 tỷ USD vào tháng 3/2009, ông vẫn tiếp tục giàu lên vượt bậc vào tháng 7. Giá trị cổ phiếu hãng LVMH của Arnault đã tăng giá 30% kể từ tháng 3 đến nay.

Khối tài sản 16,5 tỷ USD hiện nay của Bernard Arnault được tạo ra từ 15 triệu USD vốn khởi nghiệp ban đầu. Hiện nay, cả con trai Antoine và con gái Delphine của Arnault đều ngồi trong ban quản trị LVMH.

Arnault bắt đầu xây dựng sự nghiệp thời trang vào năm 1985 khi dùng 15 triệu USD bố cho để mua hãng Christian Dior. Cho đến nay, trong tay ông có đến 7 nhãn hiệu xa xỉ bậc nhất thế giới, trong đó có Louis Vuitton, Moet Hennensy, Dom Perignon, Fendi Tag Heuer. Ông cũng đã mua lại Princess Yachts, một trong những nhà sản xuất du thuyền sang trọng lâu đời nhất của nước Anh.

2. Philip Knight - Hãng quần áo thể thao Nike

Đồng sáng lập thương hiệu Nike, Philip Knight, hiện có trong tay 8,2 tỷ USD sau khi cổ phiếu của công ty thời trang thể thao tăng giá 35% kể từ tháng 3/2009.

Từng là ngôi sao đường chạy tại Đại học Oregon, Philip Knight đã hợp tác với huấn luyện viên của mình để thành lập công ty giày vào năm 1964. Ngày nay, Nike là nhà sản xuất quần áo thể thao lớn nhất thế giới, với doanh thu 18,6 tỷ USD trong năm tài chính 2008.

Sau 45 năm thành lập, Nike ngày nay trở thành nhà sản xuất quần áo thể thao lớn nhất thế giới. Bất chấp doanh thu bị suy giảm do người tiêu dùng thắt lưng buộc bụng, Nike vẫn chi 565 triệu USD để mua lại hãng thời trang thể thao Umbro.

3. Francois Pinault và gia đình - Công ty PPR

Cũng từ nước Pháp, tỷ phú Francois Pinault có trong tay 7,6 tỷ USD tính đến tháng 3/2009. Kể từ đó đến nay, cổ phần của ông tau PDR, công ty sở hữu nhãn hiệu Gucci, Yves Saint Laurent và Bottega Veneta, đã tăng giá 30%.

Là cổ đông chính của tập đoàn hàng xa xỉ PPR (trước đây có tên gọi Pinault-Printemps-Redoute, Francois Pinault và gia đình hiện có trong tay 7,6 tỷ USD. PPR sở hữu những thương hiệu nổi tiếng toàn cầu, bao gồm Gucci, Yves Saint Laurent và Puma. Bên cạnh đó, PPR cũng có những nhãn hiệu giá vừa phải khác như Lerner và Chadwick's. Bên cạnh việc đầu tư vào PPR, Pinault còn sở hữu nhãn hiệu rượu Chateau Latour ra đời từ năm 1331. Nhà đấu giá nổi tiếng thế giới Christie's cũng nằm trong tay ông

4. Nhà Fisher - Hãng thời trang Gap

Hai vợ chồng Doris và Donald Fisher mở một cửa hiệu bán quần jeans và đĩa nhạc nhỏ mang tên Gap tại San Francisco vào năm 1969, lập công ty vào năm 1976 và ngày nay là một trong những hãng thời trang giá mềm nổi tiếng nhất thế giới. Tài sản ròng của nhà Fisher hiện đạt 4,9 tỷ USD.

5. Ralph Lauren - Công ty Polo Ralph Lauren

Sau khi tốt nghiệp trường kinh doanh, Ralph Lauren khởi nghiệp bằng nghề thiết kế cà vạt cho Beau Brummel hồi 1967. Cũng năm đó, ông sáng lập ra Công ty Polo Ralph Lauren với số vốn ban đầu chỉ 50.000 USD. Đến năm 1994, 28% cổ phần ông bán cho Ngân hàng Goldman Sachs có giá 138 triệu USD. Ngày nay, Polo Ralph Laurenin sản xuất quần áo, va ly, nước hoa cho và vừa mới ra mắt nhãn hiệu đồng hồ với sự hợp tác cùng hãng Compagnie Financiere Richemont. Ralph Lauren hiện có trong tay 3 tỷ USD.

6. James Jannard - Công ty Oakley

Là người sáng lập ra hãng kính mắt xa xỉ Oakley, James Jannard hiện có trong tay 2,2 tỷ USD và có lòng đam mê lớn với lĩnh vực sản xuất phim, ảnh.

Vào năm 205, ông sáng lập ra Công ty Red Digital Cinema, hãng đầu tiên giới thiệu thiết bị quay camera kỹ thuật số chuẩn HD giá mềm. Mỗi camera chuẩn HD của Red One được bán với giá chỉ 17.500 USD. Những đạo diễn hàng đầu của Hollywood hiện nay như Peter Jackson (Phim Chúa nhẫn), Steven Soderbergh (seri phim về Băng cướp thế kỷ Ocean) đều dùng thiết bị của Red Digital. Sau 32 năm phát triển các kỹ thuật kính mắt, ngày nay một số loại kính mắt của Oakley có thể chống đạn.

7. Leslie Wexner - Limited Brands

Leslie Wexner bỏ học trường luật bang Ohio để khởi nghiệp bán quần áo thể thao cho phái nữ vào năm 1963, với số vốn vỏn vẹn 5.000 USD vay mượn. Công ty Limited Brands niêm yết vào năm 1969. Ngày nay, Limited Brands sở hữu những nhãn hiệu nổi tiếng như Victoria's Secret, Bath & Body Works, C.O. Bigelow, La Senza, White Barn Candle và Henri Bendel. Hiện Leslie Wexner có trong tay 1,7 tỷ USD.

8. Jim Davis và gia đình - New Balance

Công ty New Balance Arch sáng lập vào năm 1906 với mục đích ban đầu là chỉnh hình chấn thương chân. Đến năm 1972, Jim Davis mua lại công ty, sản xuất sản phẩm cho vận động viên chạy. Ngoài ra, công ty còn sản xuất dụng cụ cho các môn như bóng đá, hokey.

(Theo Forbes)

Jeff Bezos Cha đẻ của Amazon.com

“Những người tiên phong thật sự không ngừng nghỉ sau một khám phá hoặc một sự đổi mới. Họ bị thôi thúc tin vào những thành tựu của họ và cùng chúng đến những biên giới mới. Jeff Bezos, 45 tuổi, người sáng lập Amazon.com là một ví dụ tuyệt vời về một trong những người tiên phong không bao giờ biết thỏa mãn về kinh doanh và công nghệ”.

Những lời trên đây là của “vua” phần mềm Bill Gates khen ngợi Jeff Bezos trên Time số tháng 5 vừa qua, khi ông chủ của Amazon.com được tạp chí này xếp vào 100 người ảnh hưởng nhất thế giới. Và không phải đến bây giờ Jeff mới được vinh danh. Cách nay 10 năm – 1999, ông đã được Time bình chọn là Nhân vật của năm. Jeff là người đặc biệt: Ông tự hào khi được bình chọn là người của năm, hãnh diện khi tốt nghiệp xuất sắc trường phổ thông và tự hào khoe mình chưa bao giờ đến Amazon, Nam Mỹ. Ông mua 10 ngàn cuốn sách/tháng, nhưng chỉ đọc 3 cuốn. “Con đẻ” của ông – cửa hàng bán hàng trên mạng internet – Amazon.com, luôn đứng trong tốp website có lượng truy cập cao nhất, còn trong vòng 10 năm qua, Jeff Bezos luôn được Forbes bình chọn trong tốp 500 người giàu nhất thế giới.

Đi tìm những cái mới

Jeff Bezos sinh ngày 12.1.1964 tại Albuquerque, bang New Mexico, Mỹ. Người ta kể lại rằng, ngay từ nhỏ Jeff Bezos đã có óc sáng tạo. Cậu bé Jeff rất thích chiếc kính vạn hoa, cấu tạo bằng nhiều mảnh kính màu mà nếu nhìn vào trong đó các hình dạng luôn biến đổi. Tuy nhiên do chiếc kính có giá 20 USD, nên người mẹ không cho Jeff tiền để mua. Cậu bé nhanh chóng nhận ra rằng, có thể tự làm chiếc kính đó và cậu đã mày mò, mua các vật liệu rẻ, rồi lắp thành công chiếc kính hằng mơ ước.

Tốt nghiệp xuất sắc bậc phổ thông, lại có niềm say mê khoa học, Jeff Bezos vào học khoa Tin học, Đại học tổng hợp Princeton. Ngay sau khi nhận bằng cử nhân, Jeff Bezos từ chối lời mời của các hãng như Intel, Bell Labs và Andersen Consulting. Chàng trai trẻ vào làm việc tại hãng IT Fitel, chuyên hỗ trợ các nhà đầu tư mua bán cổ phiếu bằng sự chênh lệch giá của một loại cổ phiếu nhưng được lưu hành tại nhiều nước.

Làm tại Fitel được 2 năm, Jeff nhận thấy hãng này khó có thể phát triển đến đẳng cấp quốc tế. Chàng trai chuyển qua làm việc cho ngân hàng Bankers Trust với mức lương và vị trí không tồi. Tuy nhiên, cuối cùng Jeff cũng rời ngân hàng này khi cho đó là nơi mình không thể phát huy hết khả năng. Đi tìm công việc mới với những ý tưởng mới, Jeff tuyên bố chẳng có lý do gì để quay lại với lĩnh vực tài chính. Song “ghét của nào trời trao của ấy”. Chính hãng đầu tư tài chính danh tiếng D.E.Shaw – do Giáo sư, tiến sĩ tin học Shaw sáng lập lại mời Jeff vào làm việc. Sau này Shaw nhớ lại Jeff Bezos và nói rằng, đó là con người đặc biệt, cả hai bán cầu não đều phát triển hoàn hảo. Shaw nói: “Anh ta là người viết chương trình phần mềm cực giỏi, rất dễ dàng nắm bắt chi tiết nguyên lý hoạt động của bất kỳ phần mềm nào, ở bất kỳ cấp độ nào. Nhưng Jeff là con người năng động, anh ta luôn muốn và có khả năng sáng tạo cái mới. Có như thế anh mới thấy thỏa mãn”.

Trong 4 năm làm tại D.E.Shaw, Jeff thăng tiến nhanh chóng khi làm phó chủ tịch thứ nhất của hãng này. Tại đây, chàng trai làm quen với McKinsey, cựu sinh viên của Đại học tổng hợp Princeton và là người vợ tương lai của ông. Với nhiều người, có một sự nghiệp lúc còn trẻ như Jeff là quá hoàn hảo và đáng mơ ước. Tuy nhiên, trong một ngày đẹp trời, Jeff Bezos đã rũ bỏ tất cả để khai mở thế giới của riêng mình tại internet.

Biệt tài nhìn xa trông rộng

Năm 1999 có rất nhiều hãng kinh doanh internet ra đời, giống như nấm mọc sau mưa. Phần lớn trong số này đều phát triển tốt. Trong năm này, thông qua mua bán trực tuyến (online), doanh số bán hàng của toàn thế giới đạt 15 tỉ USD. Tuy so sánh với tổng giao dịch thương mại (2.700 tỉ USD) thì đây là con số quá nhỏ, nhưng nó cho thấy thương mại điện tử đang dần thay thế các loại kinh doanh hình cũ. Chỉ riêng việc người Mỹ bỏ ra 5 tỉ USD mua quà tặng qua mạng trong mùa Noel 1999, gấp đôi con số của cùng kỳ năm 1998 cũng nói lên điều này.

Người ta nói rằng, khi nào trong kinh tế đang chuẩn bị có cơn địa chấn, thì chỉ có số ít người cảm được những cơn sóng ngầm trước đó. Jeff Bezos là một trong số người có biệt tài này: Lần đầu tiên “đụng” đến internet, ông đã nhìn thấy tương lai của nó – điều mà hầu hết người khác không nhận ra. Cũng có người có biệt tài tương tự ông, chẳng hạn Pierre Omidyar của eBay, nhưng Jeff tiên đoán mạch lạc hơn và hình dung cụ thể được con đường ở phía trước. Chính vì thế website Amazon.com của ông sang trọng và hấp dẫn ngay từ ngày đầu thành lập và nó là biểu tượng của kinh doanh điện tử. Nhờ đó, mà năm 1999, Jeff Bezos được Time bình chọn là Nhân vật của năm.

Tên gọi Amazon bắt nguồn từ tên của dòng sông lớn ở Nam Mỹ. Đây là dòng sông có lưu vực lớn nhất thế giới. Những dòng chảy vô tận của nó trở thành biểu tượng của hãng do Jeff thành lập, (nay đã thành tập đoàn) và kinh doanh đủ loại mặt hàng, từ sách, DVD, đồ thực phẩm… cho đến các mặt hàng điện tử gia dụng. Amazon.com không ngừng mở rộng địa hạt kinh doanh, đầu tư của mình. Điều chính yếu nhất là thương mại điện tử hầu như không tốn chi phí lôi kéo, tìm kiếm những khách hàng mới.

Người của thời đại mới

Năm 1994 toàn thế giới mới chỉ có 38 triệu người sử dụng internet. Khi đó các bà nội trợ hay chính cả giới sinh viên - những người bắt đầu mua máy tính cá nhân – vẫn còn khá lờ mờ về lĩnh vực này. Tuy thế Jeff nhận thấy đó là lĩnh vực có tiềm năng không thể bỏ qua. Sau này ông nhớ lại: “Chỉ sau 1 năm, vào năm 1995 số người sử dụng internet tăng 2.300%. Đó là mức tăng chóng mặt”. Nghiên cứu 20 loại mặt hàng có thể đặt qua bưu điện, Jeff nhận thấy trong cuốn catalogue của một số cửa hàng, nhiều mặt hàng đã được chuyển qua hình thức thư điện tử (e-mail). Vào tháng 7.1994, Jeff cùng vợ McKinsey đến Seattle, thuê ở đó một căn hộ hai phòng để bắt đầu thực hiện dự án thương mại điện tử của mình.

Không có vốn, dù trước đó Jeff nói rằng rủi ro là 70%, nhưng bố mẹ của Jeff vẫn chi cho cậu con trai 300 ngàn USD. Sau này người bố nhớ lại việc này và nói: “Chúng tôi không đặt cược với internet mà là đặt niềm tin vào Jeff”. Để thực hiện dự án, Jeff tự lắp 3 chiếc máy vi tính Sun Microstations, kết nối các phần mềm. Sau đó ông nhờ 300 người quen cùng thử nghiệm. Mọi mua bán, trao đổi qua internet đều trôi chảy tuyệt vời dù là ở cấp độ nào. Ngày 16.7.1995 chính thức khai trương website, ông nhờ bạn bè tuyên truyền về cửa hàng cho bất kỳ ai nếu có thể. Sau 30 ngày hoạt động không cần đến quảng cáo được tiến hành trên khắp 50 bang của nước Mỹ và tại 45 quốc gia khác. Đến tháng 9.1995 doanh thu của cửa hàng đạt 20.000 USD/tuần.

Từ một cửa hàng bán sách qua mạng internet, giờ đây Amazon.com đã trở thành cửa hàng bách hóa tổng hợp trên internet. Mỗi ngày, trong hộp thư điện tử của Tổng giám đốc Amazon.com là báo cáo doanh số của ngày hôm trước. Jeff thường tự đọc e-mail của mình và tự trả lời các câu hỏi của khách hàng gửi đến địa chỉ jeff@amazon.com. Ông thích mua bán online trên internet và thích thú khoe các đồ vật mình mua được trên mạng.

Khi công nghệ thông tin đang làm biến đổi bộ mặt cuộc sống ngày nay, thì vị thế của Jeff Bezos ngày càng được nâng cao. Cho dù rất giàu có, nhưng chỉ có một lần Jeff sử dụng tiền mặt. Ông bán một lượng cổ phiếu lấy 23 triệu USD để mua một biệt thự bên hồ Wasington. Jeff rất thích làm từ thiện. Điều này đúng với phương châm kinh doanh của ông: Muốn kiếm tiền, hãy cho không những gì bạn có. Còn vợ ông lại nói đùa: Đôi khi chi tiền còn khó khăn hơn là làm ra nó. Điều này cũng không sai khi nhiều người thường nói: Nhiều tiền quá đôi khi cũng nhức đầu.

(Theo ThanhNien)

Saturday, May 23, 2009

Nouriel Roubini - người gây sốc thế giới

Năm 2008, khi cả thế giới lâm vào cuộc khủng hoảng tồi tệ nhất kể từ đại suy thoái thập niên 1920 - 1030, người ta mới nhớ rằng cách đó hai năm có một nhà kinh tế dự báo về cuộc khủng hoảng này nhưng cả thế giới đã làm ngơ và thậm chí còn cười ông. Đó là Nouriel Roubini - một nhà kinh tế Mỹ gốc Iran.

Giờ đây thì hình như tháng nào các diễn đàn kinh tế, các thể chế tài chính thế giới cũng như của nước Mỹ đều mời ông nói chuyện hoặc đưa ra những dự báo mới.

Tiếp tục những dự báo làm sốc cả thế giới

Tờ Wall Street Journal số ra tuần trước cho biết hiện Chính phủ Mỹ và các nhà hoạch định chính sách đang nghiêm túc xem xét những dự báo và đề nghị của ông nhằm vượt qua cuộc khủng hoảng.

Dự báo mới nhất về kinh tế thế giới của ông cũng đang tiếp tục làm sốc cả hành tinh. Ông nhận định cuộc suy thoái này sẽ kéo dài 24 - 36 tháng và kinh tế Mỹ sẽ chỉ phục hồi theo hình chữ L (khi nền kinh tế rơi xuống đến đáy thì sẽ đứng lại và giữ mức đó trong thời gian dài chứ không đi lên), giống như Nhật Bản từng trải qua trong thập kỷ 1990.

Nhìn vào bức tranh kinh tế toàn cầu, ông viết: "Khi nền kinh tế Mỹ bị nhấn chìm, nền kinh tế toàn cầu sẽ suy thoái. Châu Âu, Nhật Bản, Canada và các nền kinh tế phát triển khác sẽ rất gay go. Không một nền kinh tế mới nổi nào liên quan đến thế giới phát triển trong các lĩnh vực trao đổi hàng hóa, tài chính và tiền tệ có thể thoát khỏi cuộc khủng hoảng này".

Trên tạp chí Foreign Policy số ra tháng 1 và 2/209, ông viết: "Chúng ta cũng chỉ mới ở giai đoạn đầu của cuộc khủng hoảng. Năm nay (2009) sẽ là một năm "đau đớn", và chỉ có những hành động thật năng nổ, phối hợp toàn diện và hiệu quả mới có thể giúp năm 210 không tệ hơn năm 2009".

Để giải qyết vấn đề nợ ngân hàng, ông đề nghị Chính phủ Mỹ phải lựa chọn ưu tiên theo thứ tự nguy cấp trong số những ngân hàng không đủ tiền mặt và ngân hàng không được cấp đủ vốn nhưng có khả năng thanh toán với những ngân hàng mất khả năng thanh toán hoàn toàn.

Ông cũng đề nghị đóng cửa lập tức những ngân hàng vỡ nợ. "Chúng ta đang trong một nền kinh tế có chiến tranh. Chính phủ cần phải áp dụng nền kinh tê chỉ huy để điều tiết tín dụng nhằm thực hiện một nền kinh tế hiện thực. Những gì chính phủ làm là chưa đủ".

Nouriel Roubini là ai?

Các nhà kinh tế gọi ông là nhà dự báo kinh tế thế giới, có người ví von ông là "cánh chim báo bão".

Trước năm 2006 rất ít người biết đến tên tuổi của ông. Tháng 1/2006 tại Diễn đàn kinh tế Davos, sau đó tại trụ sở Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF), ông dự báo một cuộc khủng hoảng kinh tế sắp nổ ra do những người vay ngân hàng để mua nhà không có tiền trả nợ, sẽ bùng nổ cuộc khủng hoảng tín dụng và nhà đất ở Mỹ dẫn đến sự suy thoái toàn cầu.

Tháng 9/2006, ông nhận thấy rõ ràng kết cục của những bong bóng bất động sản: "Khi cung tăng, giá sẽ giảm, đó là điều hiển nhiên xảy ra trong vòng 110 năm qua kể từ năm 1890. Nhưng vào năm 2006, giá nhà đất tăng 90% và không theo bất cứ quy luật kinh tế nào cả: lợi nhuận thực tế, sự di chuyển, lãi suất ngân hàng, nhân khẩu học. Điều đó có nghĩa đang có một tình trạng bong bóng đầu cơ. Và bây giờ quả bóng đó đang xì hơi".

Khi được hỏi cuộc khủng hoảng bất động sản đã qua chưa, ông Roubini trả lời: "Nó không chỉ chưa kết thúc mà còn đang rơi tự do".

Vào thời điểm đó ông chỉ nhận được những lời nhạo báng vì kinh tế Mỹ đang ổn định.

Đến năm 2008, tất cả những dự báo của ông trở thành hiện thực và cuối tháng 1/2009, Nouriel Roubini trở lại Diễn đàn kinh tế Davos ở Thụy Sĩ như là nhà tiên tri của cuộc khủng hoảng kinh tế và được chào đón như một người có tài năng xuất chúng.

Một số báo chí hơi cường điệu khả năng của ông: người có con mắt nhìn xuyên thế kỷ. Nhưng Roubini cho biết ông dự báo được tình hình kinh tế thông qua những nghiên cứu hoạt động của giới tài chính Mỹ, đặc biệt ở phố Wall và hệ thống tài chính cũng như trao đổi thương mại toàn cầu. Rubini vẫn đang rất bi quan về nền kinh tế Mỹ và nền kinh tế toàn cầu.

Rounibi sinh ra ở Iran, lớn lên ở Thổ Nhĩ Kỳ, Israel và Ý, sang Mỹ học ĐH Harvard.

Hiện ông là giáo sư kinh tế tại phân viện kinh tế thuộc ĐH New York và là chủ tịch Công ty RGE Monitor, một công ty tư vấn tài chính.

Ông bắt đầu nghiên cứu về kinh tế và hoạch định chính sách từ khi dạy ở ĐH Yale và làm việc tại IMF, WB, Bank of Israel cũng như Quỹ Dữ trữ liên bang Mỹ.

Trong nhiệm kỳ của chính phủ Bill Clinton, Roubini là thành viên hội đồng cố vấn kinh tế, sau đó chuyển về Bộ Tài chính làm cố vấn cho Timothy Geithner, người hiện nay là bộ trưởng tài chính Mỹ.

(Theo TuoiTreCuoiTuan)

Saturday, May 9, 2009

Sự nghiệp của tỷ phú trẻ nhất thế giới Michael Dell

Michael Dell đã chen được chân vào một ngành công nghiệp "không khoan nhượng" nhất thế giới bằng cách phá bỏ đi những thông lệ kinh doanh máy tính lúc bấy giờ.

Hiện Dell vẫn tiếp tục theo đuổi những cách thức đó bằng việc tiếp cận những thị trường chưa công ty nào quan tâm đến, giới thiệu nhãn hiệu Marketing thương mại của công ty tới mọi nơi trên thế giới, tích cực bán hàng qua mạng...

Có một thương hiệu mang tên Dell Computer

Dell Computer được thành lập ngày 3/5/1984 với số vốn ban đầu 1.000 USD và một ý tưởng chưa từng có: bán các chương trình trực tiếp cho người tiêu dùng, bỏ qua khâu bán hàng trung gian. Rồi từ người cung cấp máy tính, Công ty Dell chuyển sang sản xuất máy tính.

Ðể nâng cao uy tín, Dell tự tay vẽ mẫu quảng cáo sản phẩm của mình, đó là hình một chiếc hộp có in hai chữ đầu của Công ty Dell, khởi đầu cho một thương hiệu lớn.

Michael sành tâm lý khách hàng mua máy tính là dễ bực bội mỗi khi máy trục trặc. Dell thiết lập ngay một đường dây nóng phục vụ 24/24 giờ, đáp ứng mọi yêu cầu của khách. Ngoài ra hãng còn có một tổ kỹ thuật tập hợp các chuyên gia máy tính lành nghề hướng dẫn khách sử dụng máy tính qua điện thoại. Khi Internet ra đời, Dell cũng nhanh nhạy đưa công ty lên mạng để quảng bá.

Thế nên cái gì đến phải đến: hãng hiện có khoảng 41.800 chi nhánh khắp thế giới và doanh thu năm qua lên tới 38,2 tỉ USD. Dell là nhà cung cấp các dịch vụ và linh kiện máy tính đầu tiên cho các tập đoàn lớn nhất trên thế giới.

Năm 2003, Thời báo Phố Wall bình chọn Dell là một trong số 10 công ty làm ăn có uy tín nhất. Hiện là công ty đứng hàng thứ tư của Mỹ về công nghệ sản xuất máy tính và lọt vào danh sách 500 công ty nhất thế giới theo sự bình chọn của tạp chí kinh doanh Fortune.

Trong 10 năm qua, dù khủng hoảng công nghệ cao nhiều lần xảy ra nhưng Dell vẫn giữ được mức tăng trưởng bình quân hàng năm là 40%. Riêng trong thập kỷ 90, cổ phiếu của Dell luôn là sự lựa chọn số 1 với mức trả cổ tức tới 97%. Năm 2003, khi tất cả những đối thủ cạnh tranh đang dần mất thị phần, thì thị phần của Dell ở Mỹ tăng 31%.

Thành công từ mô hình kinh doanh trực tiếp

Mô hình kinh doanh trực tiếp của Dell kết hợp nhiều yếu tố nhằm cung cấp những sản phẩm có giá trị tốt nhất cho khách hàng. Đó là những sản phẩm được tùy biến với mức giá thấp, thêm vào đó là hình thức giao hàng nhanh và dịch vụ khách hàng hoàn hảo. Với phương thức hoạt động theo mô hình kinh doanh trực tiếp, tất cả các sản phẩm của Dell cung cấp cho khách hàng đều được sản xuất theo đơn đặt hàng. Cách thức này đã đưa tập đoàn máy tính Dell trở thành nhà sản xuất và phân phối trực tiếp các hệ thống máy tính lớn nhất thế giới.

Một khách hàng có thể gọi điện thoại tới chi nhánh Dell hay truy cập tới www.dell.com để đặt hàng chiếc máy tính với cấu hình mà mình mong muốn. Trong vòng 5 ngày chiếc máy sẽ được giao tận tay khách hàng và cùng một cấu hình đó, mức giá Dell đưa ra thấp hơn 10-15% giá của các đối thủ cạnh tranh. Bên cạnh đó, dịch vụ bảo trì, bảo dưỡng của Dell được đánh giá là rất hoàn hảo. Kết quả là Dell có thứ hạng vững chắc trong những công ty hàng đầu với sản phẩm tin cậy và dịch vụ hoàn hảo.

Nhờ bán hàng trực tiếp nên Dell không phải trả tiền cho các nhà phân phối trung gian. Do đó giá thấp hơn mức bình quân tới 12% so với các đối thủ. Gần 2/3 lượng sản phẩm của Dell được bán cho các chính phủ, các tập đoàn lớn và các tổ chức giáo dục.

Nhà tiên phong trong mô hình bán hàng trực tiếp hiện đang bán hơn 43 triệu USD giá trị máy tính mỗi ngày từ hơn 80 quốc gia qua những website, mang lại hơn 50% doanh thu trong tổng doanh thu của tập đoàn. Khách hàng mua theo hình thức này rất đa dạng, từ cá nhân cho tới các tổ chức kinh doanh lớn.

Michael Dell đã phát minh ra một mô hình kinh doanh mà cả thế giới muốn học hỏi. Thế nhưng sau nhiều năm, không ai có thể sao chép hoàn toàn mô hình này. Đối với Dell, điều đó chẳng có gì lạ bởi hiếm có hãng nào có đủ điều kiện để sao chép đầy đủ mô hình kinh doanh của mình. Ngay cả khi muốn áp dụng mô hình này, thì các hãng có uy tín cũng không dám mạo hiểm từ bỏ công việc kinh doanh và mạng lưới tiêu thụ sản phẩm quen thuộc. Mô hình Dell có tác dụng khích lệ nhưng khó sao chép nguyên xi vì nó quá độc đáo.

Bí quyết làm giàu của Michael Dell

Sau khi đạt được điều kỳ diệu đó, Michael Dell đã kết luận triết lý quản lý kinh doanh của mình: "Ðịnh hướng khách hàng, thiết lập một chiến lược rõ ràng để có thể thảo luận, hiểu và thực hiện được. Phân đoạn công việc thành những phần có thể điều khiển được, có tính toán và phân chia trách nhiệm rõ ràng. Ðặt ra các mục tiêu để phấn đấu. Tập trung quan tâm vào hoạt động thực tế, kết quả đạt được và vạch ra quyết định hoạt động từng ngày thay vì chỉ khuyến khích xuông. Và hãy thoải mái vui vẻ."

Trên thực tế, Michael Dell đã có máu kinh doanh từ khi còn ở trường trung học. Michael giữ chân bán báo dài hạn cho Tạp chí Post ở Houston. Ðể tăng số báo bán, Michael lập danh sách những người mua báo dài hạn vừa lập gia đình cho vào máy tính lưu trữ. Sau đó, Michael gửi "quà cưới" đến nhà các đôi uyên ương đó bằng cách tặng báo biếu nhiều tuần liền. Phần lớn những gia đình đó đều đặt mua báo dài hạn và chỉ với "thương vụ" này, Michael bỏ túi 18.000 USD.

Năm 18 tuổi, vào trường Ðại học Texas ở Austin, Michael vẫn nuôi mộng kinh doanh. Lúc bấy giờ, ở Mỹ máy tính cá nhân đang ở trong tình trạng cung không đủ cầu, những người bán hàng nâng giá vô tội vạ. Michael tìm hiểu, biết hãng IBM thường buộc các đại lý nhận số lượng máy tính lớn hơn khả năng bán, số máy dư này thường được cất vào kho. Michael đến thương lượng với các đại lý mua máy dư với giá rẻ. Mày mò cải tiến vài chi tiết nhỏ trong các máy, Michael đường hoàng đem hàng của mình tung ra thị trường với giá rẻ 15% so với máy tính cùng hiệu năng đang lưu hành trên thị trường. Ðang là sinh viên đại học năm đầu tiên, Michael vừa học vừa làm, kiếm được 50.000 USD mỗi tháng.

Michael quyết định mở cơ sở kinh doanh: công ty Dell ra đời lúc Dell tròn 19 tuổi. Anh thuê một căn phòng nhỏ và một người quản lý phụ giúp tính toán sổ sách, quản lý tiền bạc và cung cấp hàng cho khách. Phương pháp kinh doanh của Dell vẫn theo cách cũ, nghĩa là tái chế máy tính "lỗi thời" của IBM trở thành hàng mang nhãn hiệu Dell rồi giao hàng tận nơi cho người tiêu dùng với giá rẻ.

Michael Dell - tỷ phú trẻ nhất thế giới

Bản thân Michael Dell là tỉ phú trẻ nhất nước Mỹ vào năm 1999 ở tuổi 34 và là một trong sô "100 nhân vật có ảnh hưởng nhất thế giới" do báo Time bình chọn tháng 4/2004. Michael Dell đã xây dựng được một công ty năng động nhất thế giới và ông hiện là chủ sở hữu một tài sản cá nhân vượt quá 17 tỷ USD nhờ việc kinh doanh của mình. Michael Dell đã rất thành công với cách điều hành công ty theo mô hình kinh doanh trực tiếp.

Anh vừa được xếp vào danh sách Top 10 người giàu nhất thế giới. Tạp chí "Forbes" xếp anh ở vị trí số 6, tuy còn kém xa vị trí số 1 của Bill Gates. Còn "Fortune" thì lại tặng cho Michael Dell danh hiệu "người Mỹ giàu nhất ở tuổi dưới 40", trong khi đó Jeff Bezos - ông chủ tài ba của Amazon - đứng ở vị trí sát nút.

Tài sản của Michael Dell đã tăng lên gấp đôi trong những tháng vừa qua nhờ điểm của tập đoàn tăng ở thị trường chứng khoán, Michael Dell luôn giữ 21% cổ phần trong công ty.

Ngoài đời, Michael không phải là một người sôi nổi, thích phô trương mà ngược lại ông sống khá giản dị, hết lòng với vợ và con. Hình ảnh của Dell in dấu trong trí nhớ nhiều người là một người đàn ông bảnh bao với gương mặt sáng sủa, gọn gàng trong chiếc áo sơ mi là thẳng và thắt caravat.

Trục trặc đầu tiên: Lợi nhuận đang sụt giảm

Cổ phiếu của Dell trong ngày 6/11 trên thị trường chứng khoán Nasdaq của Mỹ sụt giảm xuống còn 29,76USD, tức giảm 6,6% so với mức 31,88 USD trước đó một tuần. Nguyên nhân là do doanh thu quý III của hãng sản xuất máy tính cá nhân lớn nhất thế giới này chỉ đạt 13,9 tỷ USD, thấp hơn chút ít so với dự báo trước đó của công ty là khoảng từ 14,1 - 14,5 tỷ USD.

Vậy là cuối cùng, chính sách máy tính giá rẻ chất lượng đảm bảo của Dell cũng không hoàn toàn miễn nhiễm trước các "đợt ốm" theo chu kỳ của ngành máy tính. Trước đây, trong khi các đối thủ điên đầu vì không bán được hàng thì Dell vẫn đủng đỉnh đút túi hàng tỷ USD từ những chiếc máy tính sản xuất theo phương châm đó, một phương châm hoàn toàn mới lạ và hiệu quả trong ngành này.

Tuy vậy, bước sụt giảm này tỏ ra chỉ là chút khó khăn không đáng kể đối với hãng máy tính Dell cùng ông chủ trẻ tuổi tài ba Michael Dell. Hãng đặt trụ sở tại quê hương của những chàng cao bồi Texas này vẫn chiếm 18% thị phần máy tính cá nhân toàn cầu và giữ vững vị trí số 1 của mình trong lĩnh vực ấy.

Thế nên tới ngày 6/11, tuần báo tài chính Barron của Mỹ nhận định những ngày đẹp nhất của triều đại Dell vẫn đang ở phía trước và họ chỉ cần không nhiều thời gian để vượt qua chút khó khăn trước mắt. "Doanh thu và lợi nhuận của Dell không đạt mong đợi chỉ là bước lùi ngắn để họ tạo ra bước đột phá mới sắp tới", tờ báo này nhận định.

(Theo VietnamNet)

Sunday, April 19, 2009

George Soros - kẻ khuynh đảo thị trường tài chính thế giới

Chỉ vài tháng trước khi kinh tế toàn cầu rơi vào suy thoái, tỷ phú Soros nhận định, hệ thống tài chính đang ở trong tình trạng “siêu bong bong” và chỉ chờ ngày vỡ.

Trong cuốn sách mang tên “Mô hình mới của thị trường tài chính” (tạm dịch từ The new paradigm for financial markets), Soros mô tả hiện tượng “siêu bong bong” trên thị trường tài chính đã hình thành trong suốt 25 năm qua và chỉ ngày vỡ. Đây là cuốn thứ ba trong một series sách của Soros đề cập đến thảm họa đối với thị trường tài chính. Trong đó, tỷ phú đầu cơ viết một cách ẩn dụ: “Tôi đã đếm số lần sói tru. Lần đầu tiên là trong cuốn 'Thuật giả kim của thị trường tài chính', lần thứ hai là cuốn 'Khủng hoảng của chủ nghĩa tư bản toàn cầu' và lần thứ ba là trong cuốn sách này. Sau 3 lần sói tru, con sói thực sự sẽ đến”.

Tỷ phú cũng nhận định, hiện chưa có triển vọng về việc tìm ra giải pháp trong ngắn hạn cho cuộc khủng hoảng tài chính. Soros cũng là người công khai phản đối mạnh mẽ nhất kế hoạch của cựu Bộ trưởng Tài chính Mỹ Henry Paulson dùng 700 tỷ USD để mua lại nợ xấu của các định chế tài chính.
Những nhận định của George Soros giờ vẫn được nhiều người tin theo.

Sự nghiệp của Soros có nhiều mảng tối, trong đó có những lần bị phạt vì đầu cơ tiền tệ hoặc bị cáo buộc về giao dịch nội gián. Năm 1988, Soros nhận được lời đề nghị tham gia nắm giữ ngân hàng khổng lồ của Pháp Société Générale. Soros từ chối, nhưng sau đó mua một lượng cổ phần của ngân hàng này trước khi thông tin về việc chuyển nhượng ngân hàng được công bố rộng rãi. Một năm sau, giới chức Pháp bắt đầu điều tra về vụ việc và đến năm 2002, một tòa án nước này kết luận hành vi của Soros là giao dịch nội gián và tuyên phạt vị tỷ phú 2,3 triệu USD, bằng đúng số tiền Soros kiếm được từ vụ mua cổ phần của Société Générale. Soros phủ nhận và nói rằng thông tin về vụ chuyển nhượng đã được công bố rộng rãi.

Mới đây, quỹ đầu tư Soros Management Fund bị cơ quan quản lý Hungary, nơi Soros sinnh trưởng, phạt 2 triệu USD vì thực hiện kế hoạch đầu cơ tấn công đồng nội tệ của nước này.

Song tên tuổi của Soros được biết đến nhiều nhất trên thị trường tài chính thế giới qua vụ đầu cơ đồng bảng Anh vào năm 1992. Vào ngày Thứ tư Đen tối 16/9/1992, Soros đột nhiên trở nên nổi tiếng khi bán khống lượng bảng Anh có giá trị tương đương trên 10 tỷ USD, và kiếm lợi từ việc Ngân hàng Trung ương Anh do dự lựa chọn hoặc nâng lãi suất nội tệ lên ngang bằng với lãi suất tại các nền kinh tế khác trong Tổ chức sử dụng chung cơ chế tỷ giá châu Âu, hoặc thả nổi đồng nội tệ.

Cuối cùng, Ngân hàng Trung ương Anh buộc phải rút đồng bảng Anh ra khỏi cơ chế tỷ giá hối đoái châu Âu và phá giá đồng bảng. Soros kiếm được khoảng 1,1 tỷ USD trong phi vụ này và được biết đến với biệt danh “kẻ phá hoại ngân hàng trung ương Anh”. Những người thân cận của Soros có lần tiết lộ, khi thấy những điểm yếu của đồng bảng trong thời điểm đó, Soros đã hối thúc những người dưới quyền tận dụng lợi thế của mình chuẩn bị cho cuộc “tấn công” vào đồng tiền này.
Chân dung biếm họa của Soros trên trang bìa tạp chí danh tiếng Time.

Năm 1997, trong cuộc khủng hoảng tài chính châu Á, Soros một lần nữa “đánh” đồng tiền của các quốc gia, trong đó khu vực Đông Nam Á rơi vào tầm ngắm. Quỹ đầu cơ của Soros bị cáo buộc đã gây áp lực lên các đồng tiền để hưởng lợi trực tiếp từ chiến lược đầu cơ vào đồng tiền đó. Soros phản bác các cáo buộc và nói rằng quỹ của ông đơn thuần kiếm lợi từ chính những yếu kém của hệ thống tài chính thế giới mà ai cũng biết. Chiến lược đầu tư của quỹ này được dựa trên phân tích về các xu hướng kinh tế vĩ mô đang diễn ra hoặc được nhận định sớm diễn ra tại một số nước.

Cách nhìn của giới đầu tư quốc tế cũng như lãnh đạo các nền kinh tế về Soros không đồng nhất, bởi với nhiều người, Soros như một tội đồ vì đã “đánh” các đồng tiền để kiếm lợi. Song người ta đều nhìn nhận Soros là một nhà đầu tư huyền thoại, với những nhận định xác đáng về sức khỏe nền tài chính thế giới. Cựu chủ tịch Cục Dữ trữ liên bang Mỹ (FED) Paul Volcker từng nói: “George Soros đã tạo nên dấu ấn trên thị trường tài chính với tư cách một nhà đầu cơ đại tài, đủ khôn ngoan để rút lui ngay cả khi trò chơi vẫn ở phía trước. Lợi nhuận khổng lồ ông kiếm được hiện được sử dụng để thúc đẩy thay đổi tại những nền kinh tế đang trong quá trình chuyển đổi”.

Sinh trưởng trong một gia đình người Hungary gốc Do Thái, George Soros di cư sang Mỹ từ những năm 1950. Cha của ông, Tivadar Soros, là một nhà văn có tiếng tại Hungary. Trước khi sang Mỹ, Soros từng sống tại nhiều nước châu Âu và học Triết học.

Đặt chân tới Mỹ năm 1956, Soros khởi nghiệp từ vị trí nhân viên môi giới tại hãng tài chính F.M. Mayer và là nhà phân tích cho Wertheim and Company cho tới giữa những năm 1960. Trong thời gian này, Soros nghiên cứu một triết lý đầu tư của riêng mình có tên “reflexibity” (tạm dịch: cơ chế phản xạ), với quan điểm cách định giá thị trường của chính những người tham gia thị trường sẽ tác động tới giá trị đã được xác định trên cơ sở sổ sách. Đây về sau trở thành nguyên lý cơ bản của hoạt động của các quỹ đầu cơ do Soros điều hành.

Năm 1973, Soros từ bỏ vị trí phó chủ tịch một tập đoàn đầu tư tại New York và lập hãng đầu tư riêng,về sau hãng này chuyển đổi thành Quỹ Quantum. Ông tuyên bố muốn kiếm đủ tiền từ thị trường tài chính để hỗ trợ sự nghiệp viết sách và nghiên cứu triết học của mình, và dự kiến mỗi năm kiếm được 500.000 USD là chấp nhận được. Nhưng hoạt động đầu tư của Soros sau này chủ yếu được gắn liền với Soros Fund Management.

Với lượng tài sản trị giá khoảng 11 tỷ USD, Soros hiện là người giàu thứ 29 tại Mỹ theo bảng xếp hạng của Forbes, với hoạt động trong nhiều lĩnh vực, từ đầu tư chứng khoán, đầu cơ ngoại hối, kinh doanh. Vị tỷ phú này cũng là một nhà hoạt động xã hội và nhà hoạt động chính trị.

Hiện tỷ phú 79 tuổi này nắm giữ Soros Management Fund, Viện xã hội mở, và từng là một thành viên của Ban lãnh đạo của Hội đồng quan hệ quốc tế của Mỹ. Với 2 người vợ, và cả 2 đều đã ly dị, Soros có 5 người con.

Ông cũng là người tích cực tham gia các hoạt động xã hội. Từ những năm 1970 đến nay, Soros liên tục đóng góp cho các quỹ hỗ trợ sinh viên người da màu học đại học, đặc biệt tại Nam Phi. Tạp chí Time ước tính, tổng số tiền Soros đã chi cho các chương trình xã hội tại Mỹ, châu Phi và Nga vào khoảng 6 tỷ USD.

George Soros cũng được biết đến với những phát ngôn gây chấn động, đặc biệt đối với chính quyền của cựu tổng thống Mỹ Georrge Bush. Trong một cuộc phỏng vấn với tờ The Washington Post năm 2003, Soros tuyên bố việc đánh bật ông Bush ra khỏi vị trí tổng thống là “tâm điểm của cuộc đời tôi” và đây là một “vấn đề sinh tử”. Vị tỷ phú này còn nói sẽ sẵn sàng đánh đổi cả gia sản của mình cho mục tiêu này.

Soros đã thực hiện đúng như tuyên bố này, khi năm 2004, ông là một trong những người đóng góp lớn nhất cho các đối thủ của ông Bush trong cuộc đua vào Nhà Trắng. Thống kê của Trung tâm phản ứng chính trị Mỹ cho thấy, Soros đã đóng góp tổng cộng 23,5 triệu USD cho trên 500 tổ chức nhằm vận động cho việc đánh bại ông Bush. Song ông Bush vẫn tái đắc cử và có nhiệm kỳ thứ hai.

(Theo VnExpress)

Sunday, March 15, 2009

Những tỷ phú giàu nhất hành tinh năm 2009

Tạp chí chuyên xếp hạng Forbes của Mỹ vừa công bố danh sách những tỷ phú của thế giới năm 2009. Khủng hoảng tài chính đã khiến số tỷ phú toàn cầu giảm nghiêm trọng, với mức giảm 30%, còn có 793 người trong năm nay, so với mức 1.125 người năm 2008.

Người sáng lập phần mềm số 1 thế giới Microsoft, tỷ phú Bill Gates, là người giàu nhất thế giới năm 2009.

Những con số mà Forbes đưa ra cho thấy, năm 2008 là một năm đầy sóng gió với những người nắm giữ những khối tài sản khổng lồ. Trong số 1.125 tỷ phú của năm qua, có 373 người giờ không còn là tỷ phú - trong số này có 355 người chứng kiến tài sản của mình teo tọp và 18 người đã qua đời. Tuy nhiên, câu lạc bộ tỷ phú năm nay tiếp nhận thêm 38 gương mặt mới. Cộng thêm vào đó là 3 tỷ phú trước đây bị "rớt hạng" xuống triệu phú, nhưng năm nay đã phục hồi được tài sản lên mức tỷ USD.

Theo Forbes, năm nay là năm đầu tiên mà tài sản của những người giàu nhất Trái Đất giảm sút từ năm 2003. Tổng tài sản ròng của 793 tỷ phú trong danh sách năm nay là 2.400 tỷ USD, giảm mất 2.000 tỷ USD so với năm ngoái. Tài sản trung bình của mỗi tỷ phú đã giảm 23%, xuống còn 3 tỷ USD/người.

Năm 2008, tài sản của tỷ phú Bill Gates sụt mất 18 tỷ USD, nhưng ông vẫn giành lại được danh hiệu người giàu nhất thế giới. Tỷ phú số 1 năm ngoái là nhà đầu tư huyền thoại Warren Buffett đã không duy trì được ngôi vị này do tài sản của ông đã “bốc hơi” 25 tỷ USD do cổ phiếu tập đoàn Berkshire Hathaway mất giá 50% trong năm qua. Mặc dù vậy, Buffett vẫn tỏ ra khá “kiên cường” khi chỉ bị tụt hạng xuống vị trí thứ hai trong danh sách tỷ phú năm 2009.

Tỷ phú viễn thông người Mexico Carlos Slim Helu cũng mất 25 tỷ USD tài sản trong năm qua và tụt xuống vị trí thứ ba trong danh sách năm nay, từ vị trí thứ hai trong danh sách năm ngoái.

Do tác động sâu rộng của cơn bão tài chính, hiếm có tỷ phú nào tránh được sự hao hụt tài sản trong năm qua, cho dù họ hoạt động trên thị trường chứng khoán, trong lĩnh vực nguyên vật liệu thô, địa ốc hay công nghệ…

Tuy nhiên, mất mát lớn nhất thuộc về tỷ phú người Ấn Độ Anil Ambani, với khoản thiệt hại 76% tài sản, tương đương 32 tỷ USD. Giá cổ phiếu của 3 tập đoàn mà ông sở hữu là Reliance Communications, Reliance Power và Reliance Capital cùng gần như “rơi tự do” trong năm qua. Năm 2008, chính tỷ phú này là người có mức gia tăng tài sản ngoạn mục nhất trong danh sách của Forbes.

Ấn Độ có tới 24 tỷ phú trong câu lạc bộ những người giàu nhất hành tinh năm 2009. Trong số này, chỉ có một tỷ phú là không mất tiền trong năm vừa qua. 29 tỷ phú người Ấn trong danh sách năm ngoái tới năm nay đã không còn là tỷ phú, do thị trường chứng khoán nước này sụt giảm tới 44% trong năm 2008, trong khi đồng Rupee mất giá 18% so với USD.

Bởi thế, Ấn Độ đành “ngậm ngùi” trao lại danh hiệu quốc gia có nhiều tỷ phú nhất châu Á cho Trung Quốc, nước đóng góp 28 gương mặt trong câu lạc bộ những người giàu nhất thế giới năm nay.

Về phần mình, Nga đã trở thành trung tâm của “nỗi thống khổ” của các tỷ phú trên hành tinh trong cuộc khủng hoảng tài chính đang hoành hành. 55 tỷ phú Nga, tức 2/3 số tỷ phú của nước này trong danh sách năm ngoái, đã bị đánh bật ra khỏi danh sách năm nay.

Trong số những nhân vật “rớt đài” này phải kể tới tỷ phú ống thép Dmitry Pumpyansky với tài sản sụt giảm 5 tỷ USD, hay tỷ phú khai mỏ và địa ốc Vasily Anisimov “đánh mất” 3,2 tỷ USD.

Cách đây 1 năm, Moscow vượt New York để trở thành thành phố có nhiều tỷ phú nhất thế giới. Khi đó, Moscow có 74 tỷ phú, còn New York chỉ có 71 tỷ phú. Nhưng năm nay, New York đã “lật ngược thế cờ” và giành lại danh hiệu này, với 55 tỷ phú, so với con số 27 tỷ phú của thủ đô nước Nga.

Sau mấy năm đi xuống gần đây trong xếp hạng của Forbes, năm nay, nước Mỹ đã giành lại ngôi vị đầu bảng về mức độ giàu có. Các tỷ phú Mỹ năm nay chiếm 44% giá trị tài sản và 55% số thành viên của câu lạc bộ tỷ phú, tăng lần lượt 7% và 3% so với năm ngoái.

Mặc dù vậy, số tỷ phú Mỹ năm nay đã giảm đi 110 người so với năm 2008. Trong đó, những tỷ phú có “dính dáng” tới Phố Wall là những người gánh chịu thiệt hại nghiêm trọng hơn cả.

Cựu CEO Maurice (Hank) Greenberg của hãng bảo hiểm khổng lồ AIG “bó tay” nhìn khối tài sản 1,9 tỷ USD của ông gần như mất trắng sau khi tập đoàn này được Chính phủ Mỹ tiếp quản để tránh sự đổ vỡ. Hiện, Greenberg chỉ còn lại 100 triệu USD trong tay và “an phận” với danh hiệu triệu phú. Tương tự, cựu Chủ tịch ngân hàng Citigroup, ông Sandy Weill, hiện cũng không còn là tỷ phú nữa.

Năm 2008, có 39 nhà quản lý quỹ đầu cơ của Mỹ là tỷ phú, năm nay, con số này chỉ là 28. Ngoài ra, 12 tỷ phú Mỹ đứng đầu các quỹ đầu tư cổ phần tư nhân trong năm 2008 tới nay cũng đã rớt ra ngoài danh sách của Forbes. Chủ tịch tập đoàn đầu tư cổ phần tư nhân Blackstone, ông Stephen Schwarzman mất 4 tỷ USD trong năm qua, nhưng vẫn giữ được danh hiệu tỷ phú.

Tính chung trên toàn thế giới, trong số 355 tỷ phú bị loại danh sách, có 80 người có tài sản bắt nguồn từ lĩnh vực tài chính hoặc đầu tư.

Mặc dù năm 2008 chứng kiến sự mất mát tài sản của 656 tỷ phú, vẫn có 44 tỷ phú trong năm này kiếm thêm được tiền. Đó là những tỷ phú kinh doanh các mặt hàng tiêu dùng giá cả phải chăng hoặc những tỷ phú đã tiên liệu được sự sụp đổ của thị trường…

Cuộc khủng hoảng hiện nay cũng nên được nhìn nhận là một cơ hội, bên cạnh những tác động tiêu cực của nó. Bằng chứng là, câu lạc bộ tỷ phú thế giới năm nay vẫn tiếp nhận thêm 38 thành viên mới - những người biết cách biến khủng hoảng thành cơ hội.

Trong số này có tỷ phú Mexico Joaquin Guzma Loera, một trong những nhà cung cấp cocaine lớn nhất cho Mỹ, tỷ phú Trung Quốc kinh doanh xe hơi chạy điện Wang Chuanfu, hay tỷ phú dầu gội đầu người Mỹ John Paul Dejoria…

Top 10 tỷ phú giàu nhất hành tinh năm 2009:

1. Bill Gates (quốc tịch Mỹ, 53 tuổi, người sáng lập hãng phần mềm Microsoft, 40 tỷ USD)

2. Warren Buffett (quốc tịch Mỹ, 78 tuổi, Chủ tịch tập đoàn Berkshire Hathaway, tài sản 37 tỷ USD)

3. Carlos Slim Helu (quốc tịch Mexico, Chủ tịch tập đoàn viễn thông Telmex, 69 tuổi, tài sản 35 tỷ USD)

4. Lawrence Ellison (quốc tịch Mỹ, 64 tuổi, Chủ tịch hãng phần mềm Oracle, tài sản 22,5 tỷ USD)

5. Ingvar Kamprad (quốc tịch Thụy Điển, 83 tuổi, Chủ tịch hãng bán lẻ Ikea, tài sản 22 tỷ USD)

6. Karl Albrecht (quốc tịch Đức, 89 tuổi, chủ hãng bán lẻ Aldi, tài sản 21,5 tỷ USD)

7. Mukesh Ambani (quốc tịch Ấn Độ, 51 tuổi, Chủ tịch tập đoàn công nghiệp Reliance Industries, tài sản 19,5 tỷ USD)

8. Lakshmi Mittal (quốc tịch Ấn Độ, 58 tuổi, Chủ tịch hãng thép Arcelor Mittal, tài sản 19,3 tỷ USD)

9. Theo Albrecht (quốc tịch Đức, chủ các hãng bán lẻ Aldi và Trader’s Joe, 87 tuổi, tài sản 18,8 tỷ USD)

10. Amancio Ortega (quốc tịch Tây Ban Nha, Chủ tịch hãng bán lẻ hàng may mặc Zara, 73 tuổi, tài sản 18,3 tỷ USD)

(Theo Forbes)

10 tỷ phú trẻ nhất thế giới 2009

Hôm qua, tạp chí nổi tiếng Forbes đã công bố danh sách những tỷ phú trẻ nhất thế giới năm 2009. Họ đều dưới 40 tuổi, kinh doanh ở nhiều ngành nghề khác nhau, nhưng có một điểm chung là chủ sở hữu những tài sản trị giá hàng tỷ USD.

Do ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế, danh sách các tỷ phú trẻ năm nay có "hẻo" hơn những năm trước. Tài sản của họ, vì thế, cũng bị thu hẹp bớt. Năm ngoái, trong danh sách có tên 20 người, và tất cả đều dưới 36 tuổi. Nhưng năm 2009, tuổi của họ từ 25 đến 40. Tài sản trung bình của những người này năm nay cũng chỉ còn khoảng 2,9 tỷ USD, giảm 30% so với năm ngoái.

Hoàng tử Albert von Thurn und Taxis - 25 tuổi - tổng tài sản 2,1 tỷ USD đã trở thành người đứng đầu danh sách những tỷ phú trẻ nhất thế giới năm nay khi người đồng sáng lập Facebook, Mark Zuckerberg, bị tuột khỏi danh sách này. Lần đầu tiên xuất hiện trong danh sách những tỷ phú của thế giới khi mới 8 tuổi, nhưng Albert chỉ chính thức thừa hưởng tài sản vào tháng 6/2001, đúng ngày sinh nhật lần thứ 18. Tốt nghiệp phổ thông ở Rome, sau đó theo học ngành kinh tế tại đại học Edinburgh (Scotland). Tài sản của Albert bao gồm bất động sản, các tác phẩm nghệ thuật, một công ty về công nghệ và khoảng 30.000 ha rừng ở Đức.

Đứng vị trí thứ hai trong danh sách là người đồng sáng lập hãng tìm kiếm khổng lồ Google, Sergey Brin, 35 tuổi, với tổng tài sản trị giá 12 tỷ USD. Giá trị tài sản của Google trên thị trường chứng khoán đã giảm khoảng 30% trong một năm qua, nhưng những gì thuộc sở hữu của Sergey Brin vẫn còn rất lớn.

Larry Page - 36 tuổi - tổng tài sản 12 tỷ USD, là con trai của một giáo sư, đồng sáng lập hệ thống tìm kiếm khổng lồ Google. Anh gặp người bạn Sergey Brin trong khóa học tiến sĩ về công nghệ thông tin tại ĐH Stanford. Hai người cùng cộng tác với nhau từ năm 1998 và sáng lập Google với văn phòng đầu tiên trong một garage của bạn. Larry Page, Sergey Brin và một số nhà đầu tư khác đều đã trở thành tỷ phú khi cổ phiếu của Google có mặt trên thị trường chứng khoán năm 2004. Vì khủng hoảng kinh tế, tài sản của anh đã giảm gần 6.6 tỷ USD so với năm ngoái.

Sheik Mansour Bin Zayed Al Nahayan - 39 tuổi - tổng giá trị tài sản 4,9 tỷ USD, là thành viên của gia đình Hoàng gia Abu Dhabi. Năm ngoái, anh đã bỏ ra 300 triệu USD để mua lại CLB bóng đá Manchester City. Một tháng sau, anh cứu Ngân hàng hàng đầu của Anh Barclays bằng khoản đầu tư khoảng 5 tỷ USD. Tỷ phú trẻ này rất mê bóng đá và đua ngựa.

Jerry Yang - 40 tuổi - tổng tài sản 1,1 tỷ USD đã không còn giữ chức vụ cao nhất tại Yahoo kể từ tháng 1. Cổ phiếu của Yahoo đã giảm gần 55% kể từ khi có lời đề nghị sáp nhập với Microsoft tháng hai năm ngoái. Jerry Yang mới chỉ làm CEO tại Yahoo được hơn 1 năm rưỡi, nhưng hiệu quả kinh doanh mà anh mang lại không như kỳ vọng.

Andrey Melnichenko - 37 tuổi - tổng giá trị tài sản 1 tỷ USD. Tài sản của tỷ phú trẻ người Nga này bị giảm hơn 80% so với năm ngoái khi ngành năng lượng gặp khó khăn. Là con trai của một nhà vật lý nổi tiếng của Liên Xô trước đây, anh cũng theo nghiệp cha nghiên cứu về vật lý tại ĐH Quốc gia Matxcơva. Năm 1993, anh sáng lập Ngân hàng MDM, cùng với Sergei Popov, tạo nên một đế chế của ngành công nghiệp gồm than đá, năng lượng và phân bón. Melnichenko lập gia đình với một người mẫu Nam Tư và sau đó là nữ hoàng nhạc pop Aleksandra Nikolic. Năm 2007, nhiều người nói rằng anh đã chi 2 triệu USD để mời Jennifer Lopez tới biểu diễn tại bữa tiệc sinh nhật lần thứ 30 của vợ anh.

John Arnold - 35 tuổi - tổng tài sản 2,7 tỷ USD. Tỷ phú trẻ nhất nước Mỹ này vẫn tiếp tục giàu lên từng ngày. Thậm chí, tài sản của Tập đoàn Năng lượng Arnold Wunderkind's Centaurus Energy đã tăng 80% trong năm 2008. Bố là luật sư và mẹ là kế toán nên John Arnold cũng có thiên hướng kinh doanh từ nhỏ khi anh theo học ngành tài chính tại ĐH Vanderbilt. Năm 1995 anh làm việc cho Enron và góp phần tạo ra khoản lợi nhuận 750 triệu USD cho hãng năm 2001. Anh sáng lập Centaurus sau khi Enron phá sản. Doanh thu của Tập đoàn mới đã tăng 200% mỗi năm kể từ năm 2002.

William Ding - 38 tuổi - tổng tài sản 1,1 tỷ USD, là sáng lập viên của công ty trò chơi trực tuyến lớn thứ hai ở Trung Quốc, Netease. Ding từng là người đàn ông giàu nhất Trung Quốc. Chiến lượng kinh doanh của Ding là hợp tác với nhiều gã khổng lồ trên toàn cầu và nhờ thế tăng trưởng lợi nhuận của Công ty luôn đạt mức hai con số trong nhiều năm qua.

Chu Lam Yiu - 39 tuổi - tổng tài sản 1,5 tỷ USD. Chu sở hữu Huabao International, công ty chuyên làm hương liệu phục vụ cho sản xuất thuốc lá, bột giặt, đồ uống, sản phẩm bơ sữa và mỹ phẩm. Tài sản đã bị giảm khoảng 20% so với năm ngoái do khủng hoảng kinh tế. Năm 2008, cô cũng phải bán 9% cổ phần trong công ty, nhưng hiện vẫn còn sở hữu khoảng hai phần ba tài sản. Cô còn giữ một vài chức vụ lãnh đạo trong một số tập đoàn công nghiệp trong nước.

Daniel Ziff - 37 tuổi - tổng giá trị tài sản 3,5 tỷ USD, cùng với hai người anh trai Dirk và Robert, anh đầu tư vào bất động sản, quản lý nợ, bảo hiểm ngân hàng và chứng khoán thông qua Tập đoàn Đầu tư Ziff Brothers Investments. Gia đình Ziff còn sở hữu một hãng truyền thông lớn.

(Theo Forbes)

"Đại gia" nào giàu nhất thế giới năm 2009?

Năm nay, số tỷ phú cũng giảm 332 người so với năm 2008, còn 793 người. Doanh nhân Ấn Độ A-nim Am-ba-ni là tỷ phú bị thiệt hại nặng nề khi tài sản của ông giảm tới 76%, khoảng 32 tỷ USD.

Tạp chí Forbes ngày 11-3 đã công bố danh sách những tỷ phú của thế giới năm 2009. Trong bối cảnh khó khăn chung của nền kinh tế toàn cầu, tài sản của những người giàu nhất thế giới đã giảm trung bình gần 30%. Tài sản trung bình của họ chỉ còn khoảng 3 tỷ USD.

Bin Ghết đã trở lại vị trí người giàu nhất thế giới mặc dù tài sản của ông cũng bị hao hụt 18 tỷ USD so với năm ngoái. Hiện tổng tài sản của người sáng lập công ty phần mềm Microsoft ước tính đạt 40 tỷ USD. Sau khi nghỉ hưu, B.Ghết dành phần lớn thời gian cho hoạt động của quỹ từ thiện Bill & Melinda Gates Foundation.

Tài sản của quỹ này ước tính khoảng 30 tỷ USD. Vợ chồng B.Ghết cho biết thời gian tới họ sẽ nỗ lực giúp đỡ người nghèo đói ở các nước đang phát triển, cải cách giáo dục trung học ở Mỹ, hỗ trợ các nạn nhân bệnh sởi, AIDS.

Là người giàu nhất thế giới 2008, nhưng do mất khoảng 25 tỷ USD trong năm qua, tài sản của ông Oa-ren Bắp-phê giờ chỉ còn 37 tỷ USD, tụt xuống vị trí thứ hai trong danh sách các tỷ phú. Cổ phiếu hãng của Berkshire Hathaway do ông sáng lập đã giảm tới 45%. Những khoản đầu tư của tỷ phú này vào Goldman Sachs, GE cũng đều bị thất thu. Chính bản thân O.Bắp-phê, người được mệnh danh là “nhà đầu tư vĩ đại nhất mọi thời đại”, cũng thừa nhận một số chính sách đầu tư của mình trong năm 2008 là "ngớ ngẩn".

Ông Ca-lốt Xlim Hê-lu đứng ở vị trí thứ ba với tổng tài sản trị giá 35 tỷ USD. Khủng hoảng kinh tế đã khiến nhà tài phiệt Mê-hi-cô này thiệt hại khoảng 25 tỷ USD so với năm ngoái. Là con trai của một người nhập cư Li-băng, Ca-lốt Xlim Hê-lu bắt đầu giàu lên nhanh chóng sau khi ông mua lại hãng cung cấp dịch vụ điện thoại cố định Telefonos de Mexico. Công ty này hiện chiếm tới 90% thị phần tại Mê-hi-cô. Ca-lốt Xlim Hê-lu cũng đã thâu tóm Công ty điện thoại di động lớn nhất Mỹ La-tinh America Movil và là một trong những cổ đông lớn nhất của tờ Thời báo Niu Y-oóc.

Đứng thứ 4 trong danh sách là Tổng giám đốc tập đoàn phần mềm Oracle Lo-ren Ê-li-xơn. Doanh nhân này có tổng tài sản 22,5 tỷ USD. Năm 2008, Lo-ren Ê-li-xơn đã mua lại tập đoàn BEA Systems với giá 8,5 tỷ USD và đến đầu năm 2009 đã lãi ngay 2,4 tỷ USD từ thương vụ này. Tuy nhiên, những khoản đầu tư của ông trong lĩnh vực phần mềm ở một số công ty trong năm qua hầu như không sinh lời.

(Theo QDND)

Bill Gates trở lại vị trí người giàu nhất thế giới

Sau một năm "nhường ngôi" cho Warren Buffet, Bill Gates, dù mất 18 tỷ USD so với tài sản năm 2008, đã trở lại vị trí dẫn đầu trong danh sách những người giàu nhất thế giới do tạp chí danh tiếng Forbes, mới công bố ngày 11/3.

Năm nay, trong bối cảnh khó khăn chung của nền kinh tế, tài sản của các tỷ phú đã giảm trung bình tới gần 30%. Trong danh sách 2009, chỉ còn 793 người, so với 1.125 người của năm ngoái. Tài sản trung bình của họ chỉ còn khoảng 3 tỷ USD. 44% người giàu nhất trong danh sách mang quốc tịch Mỹ.

40 tỷ USD là tổng tài sản của Bill Gates năm nay, cho dù ông đã bị mất 18 tỷ USD so với năm ngoái. Không còn làm việc tại Microsoft, Bill Gates giờ dành phần lớn thời gian và tài sản của mình cho quỹ từ thiện mang tên hai vợ chồng Bill & Melinda Gates Foundation. Tài sản của quỹ này ước tính khoảng 30 tỷ USD. Hoạt động chính của vợ chồng Bill Gates thời gian tới sẽ là giúp đỡ người nghèo đói ở các nước đang phát triển, cải cách giáo dục trung học ở Mỹ, hỗ trợ các nạn nhân bệnh sởi, AIDS...

Đứng đầu danh sách người giàu nhất thế giới 2008, nhưng do mất khoảng 25 tỷ USD trong năm qua, tài sản của tỷ phú Warren Buffet giờ chỉ còn 37 tỷ USD, đành phải nhường lại vị trí dẫn đầu cho Bill Gates. Cổ phiếu hãng Berkshire Hathaway của ông đã giảm tới 45%. Những khoản đầu tư của tỷ phú này vào Goldman Sachs, GE... cũng đều bị thất thu. Chính bản thân Warren Buffet cũng thừa nhận một số chính sách đầu tư của mình trong năm 2008 là "ngớ ngẩn".

Carlos Slim Helu và gia đình với tổng tài sản trị giá 35 tỷ USD đứng ở vị trí thứ ba. Khủng hoảng kinh tế đã lấy đi của nhà tài phiệt Mexico khoảng 25 tỷ USD so với năm ngoái. Là con trai của một người nhập cư Libăng, Slim kiếm được số tiền đáng kể đầu tiên năm 1990 khi ông mua lại hãng điện thoại cố định Telefonos de Mexico, giờ chiếm tới 90% thị phần tại quốc gia châu Mỹ này. Ngoài ra, cổ phiếu của ông và gia đình còn nằm ở các Công ty điện thoại di động lớn nhất châu Mỹ Latin, America Movil, tờ New York Times...

Lawrence Ellison của Oracle có tài sản 22,5 tỷ USD. Mua BEA Systems với giá 8,5 tỷ USD năm ngoái, doanh thu đã tăng 11% để đạt mức 10,9 tỷ USD trong 6 tháng cuối năm 2008. Lợi nhuận cũng tăng tương tự, với khoảng 2,4 tỷ USD. Tuy nhiên, những khoản đầu tư của ông trong lĩnh vực phần mềm ở một số công ty trong năm qua đã bị giảm khoảng 25%.

Ingvar Kamprad và gia đình với tổng tài sản trị giá khoảng 22 tỷ USD đứng ở vị trí 5 trong danh sách. Khi còn là một cậu bé, Kamprad đã bắt đầu tính chuyện kinh doanh khi bán các sản phẩm lưu niệm. Năm 1947, ông khởi nghiệp trong lĩnh vực buôn bán đồ nội thất. Cửa hàng đầu tiên trong chuỗi kinh doanh nội thất IKEA nổi tiếng thế giới của gia đình được mở cách đây 50 năm. Năm 1986, ông nghỉ kinh doanh và chỉ làm việc với tư cách cố vấn cấp cao. Giờ đây, nhãn hiệu IKEA đã có mặt ở 36 quốc gia, với 9.500 sản phẩm, catalogue giới thiệu sản phẩm được in bằng 27 thứ tiếng... Trong năm 2008, doanh thu của Công ty đã tăng 7%. Ba con trai của ông đều theo bước cha phát triển thương hiệu của gia đình.

Karl Albrecht, tỷ phú trong lĩnh vực kinh doanh siêu thị ở Đức, hiện có tài sản khoảng 21,5 tỷ USD. Người giàu nhất nước Đức này cùng em trai đã phát triển cửa hàng rau quả nhỏ của bà mẹ thành chuỗi siêu thị giá rẻ Aldi Nord. Năm 2008, doanh thu đã tăng khoảng 10%, đạt mức 33,7 tỷ USD. Năm 2009, Karl Albrecht dự kiến sẽ bành trướng sang Mỹ, với cửa hàng đầu tiên ở New York. Cuộc sống cá nhân của tỷ phú này ít người biết đến ngoại trừ việc ông trồng hoa lan và chơi golf.
Được thừa kế và tiếp tục công việc kinh doanh của gia đình, hiện tài sản của tỷ phú người Ấn Độ, Mukesh Ambani, khoảng 19,5 tỷ USD. Mukesh Ambani sở hữu tập đoàn công nghiệp dầu mỏ lớn nhất Ấn Độ, với giá trị vốn hóa lớn nhất trên thị trường chứng khoán. Tuy nhiên, cũng vì khủng hoảng kinh tế, tài sản của Tập đoàn đã giảm khoảng 40% chỉ trong vòng một năm. Gần đây, Mukesh Ambani còn nổi tiếng khi cho xây dựng một tòa nhà của riêng mình cao tới 27 tầng, tổng chi phí xây dựng khoảng 1 tỷ USD.

Tỷ phú gốc Ấn Độ Lakshmi Mittal, năm nay tài sản chỉ còn 19,3 tỷ USD so với 45 tỷ USD của năm ngoái. Bắt đầu kinh doanh trong ngành thép từ những năm 1970, nhưng năm 1994, ông mới có một thương hiệu của riêng mình, ArcelorMittal. Giá thép giảm xuống mức thấp nhất trong 4 năm qua, khoảng 75% đã ảnh hưởng rất nhiều tới tài sản chung. Dù vậy, Lakshmi Mittal vẫn có tiếng là người giàu nhất châu Âu. Định cư từ lâu tại London, ông còn nổi tiếng vì sở hữu một căn nhà với 12 phòng ngủ kế bên cung điện Kensington.

Theo Albrecht, em trai của Karl Albrecht với tổng tài sản trị giá 18,8 tỷ USD cùng quản lý chuỗi siêu thị của gia đình Aldi Nord. Hiện, Theo giám sát hoạt động kinh doanh tại khu vực miền bắc nước Đức và châu Âu. Ông là người thích sưu tập các loại máy chữ cũ và say mê môn golf.

Chỉ từ một người giúp việc trong một cửa hàng quần áo, Amancio Ortega giờ là một tỷ phú với tổng tài sản 18,3 tỷ USD. Cùng với vợ, Rosalia Mera, cũng là một tỷ phú, ông bắt đầu kinh doanh trong lĩnh vực may mặc với thương hiệu Inditex nổi tiếng khắp thế giới. Hiện Inditex có hơn 4.000 cửa hàng ở 71 quốc gia, doanh thu năm 2008 là 12,3 tỷ USD. Giá trị cổ phiếu của Inditex tăng 1% so với năm ngoái, nhưng tài sản của ông đã bị giảm vì sự suy yếu của đồng euro.

(Theo Forbes)

Sunday, March 1, 2009

Carlos Ghosn - Ông vua cắt giảm chi phí

Carlos Ghosn là người nước ngoài nổi tiếng nhất của đất nước "Mặt trời mọc", chỉ trong vòng 20 tháng khi làm Chủ tịch kiêm Tổng giám đốc điều hành của Nissan, Carlos Ghosn đã cứu tập đoàn ô tô lớn thứ 3 nước Nhật thoát khỏi bờ vực phá sản hoàn toàn.

Nissan, từ một tập đoàn đang nợ chồng chất với tổng số nợ khổng lồ lên tới trên 20 tỉ USD, với sự điều hành của Carlos Ghosn đã trở thành nhà sản xuất ô tô hiệu quả nhất thế giới. Đây là điều mà trước đó không ai tin nổi, kể cả những người lạc quan nhất.

Carlos Ghosn sinh nǎm 1954, từ lâu ông được biết đến là một nhà quản lý tài ba của các tập đoàn đa quốc gia. Ông là một doanh nhân, là nhà quản lý với rất nhiều lợi thế của tính quốc tế và đa v ǎ n hoá mà khó ai bì kịp. Carlos Ghosn thông thạo 5 thứ tiếng Anh, Pháp, Italia, Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha.

Mang quốc tịch Pháp, nhưng thực ra cha ông lại là người có gốc gác từ Lebanon, lấy vợ người Pháp. Lớn lên và đi học tại trường tiếng Pháp ở Bairut, nhưng Carlos Ghosn lại được sinh ra ở Brazil. Ông lập nghiệp, bắt đầu thành danh ở Pháp và thật sự nổi tiếng thế giới từ đất Nhật. Khi mới 24 tuổi Carlos Ghosn đã được thử thách ở vị trí giám đốc nhà máy tại Le Puy của Michelin, một công ty sản xuất lốp xe nổi tiếng của Pháp. Vào nǎm 1984 ông đã là giám đốc phụ trách kỹ thuật và nghiên cứu phát triển sản phẩm của Michelin.

Chỉ ít nǎm sau Carlos Ghosn lại được ông chủ Francois Michelin bổ nhiệm làm giám đốc điều hành tại khu vực Bắc Mỹ. Chính trong thời kỳ này ông đã giúp Michelin mua lại công ty Mỹ Uniroyal Goodrich đang bị thua lỗ nặng nề. Và trong thời gian này Carlos Ghosn đã có dịp thể hiện khả nǎng quản lý, đặc biệt là tài cải tổ doanh nghiệp của mình. Thậm chí Ghosn còn được tin tưởng đào tạo, hướng dẫn cho người con trai của ông chủ, Edouard Michelin, người hiện đang làm Chủ tịch của tập đoàn này.

Nǎm 1996, Carlos Ghosn chuyển sang làm quản lý điều hành cho tập doàn sản xuất ô tô Renault. Ông nhanh chóng trở thành nhân vật thứ hai của tập đoàn ô tô lớn nhất của Pháp này, trực tiếp phụ trách các lĩnh vực nghiên cứu, phát triển sản phẩm và lắp ráp. Từ khi có dự án hợp tác Renault - Nissan nǎm 1999, Carlos Ghosn trở thành Chủ tịch kiêm Tổng giám đốc điều hành của Nissan.

Vua giảm chi phí

Vào nǎm 1999 Nisan, nhà sản xuất ô tô lớn thứ ba của Nhật đang đứng trước bờ vực phá sản vì thua lỗ nặng nề và nợ nần chồng chất. Đầu năm 1999 người dân nước Nhật đầy kiêu hãnh đã thất vọng tràn trề khi thấy Nissan, từng là đứa con cưng của ngành công nghiệp Nhật Bản sắp phải biến mất khỏi thị trường.

Các nhà quản lý Nhật Bản đã phải bó tay khi không thể cứu vãn nổi một tập đoàn Nissan với cả núi nợ tới 20 tỉ USD. Và cuối cùng dù không mấy tin tưởng vào một nhà quản lý Tây Âu, nhưng giới công nghiệp Nhật Bản vẫn phải chấp nhận yêu cầu của các nhà đầu tư nước ngoài khi thực hiện cải tổ Nissan. Carlos Ghosn đã đến với nước Nhật và trở thành người đứng đầu Nissan trong bối cảnh đó.

Những thách thức và khó khǎn mà ông phải vượt qua là vô cùng lớn. Tuy nhiện vị tổng đạo diễn của kế hoạch cải tổ "Revival Plan" đã thể hiện một thần kinh thép và một ý chí quyết tâm mãnh liệt. Như một vị bác sĩ, việc đầu tiên là ông rà soát lại toàn bộ tập đoàn. Carlos Ghosn đã không mấy khó khǎn phát hiện ung nhọt lớn nhất của tập đoàn lúc đó là một bộ máy khổng lồ, cồng kềnh và không hiệu quả.

Và cái gì đến đã phải đến. Ghosn quyết định cắt giảm ngay lập tức 21.000 nhân viên, tức 15% tổng biên chế của cả tập đoàn. Đây là một liệu pháp đã thực sự gây sốc đáng kể đối với hệ thống kinh tế nước Nhật. Vị Chủ tịch của Nissan đã không ít lần phải lên tiếng để bảo vệ và thuyết phục một quyết định đau đớn nhưng theo ông là không có con đường nào khác.

Mặc dù vậy giảm nhân sự vẫn chỉ mới là một trong nhiều biện pháp mà nhà cải tổ Ghosn áp dụng để giảm chi phí của Nissan. Toàn bộ các hợp đồng cung cấp nguyên vật liệu, thiết bị cho Nissan đều được Carlos Ghosn rà soát lại. Và Ghosn đã không nhầm khi phát hiện không ít chi phí có thể giảm bớt. Vừa thuyết phục, vừa gây sức ép, ông đã đàm phán và ký kết lại nhiều hợp đồng theo hướng có lợi hơn cho Nissan. Carlos Ghosn từng nói ở vị trí của ông lúc đó như là đứng trên lửa. Không hành động quyết liệt và liên tục là chết.

Để lành mạnh hóa tài chính của một Nisan đang từ cõi chết Carlos Ghosn đã thực hiện giảm hết chi phí này đến chi phí khác. Có thể nói chi phí của Nissan đã được Ghosn giảm tối đa, giảm đến mức không còn gì để giảm được nữa. Cũng từ đó Carlos Ghosn còn có thêm biệt danh "Mr. Cost killer" của một "ông vua" về giảm chi phí. Chỉ trong vòng chưa đầy 2 nǎm dưới sự quản lí và điều hành của Carlos Ghosn, Nissan đã có được mức lợi nhuận cao tới 10,8% của doanh số trong khi doanh số vẫn tiếp tục tǎng đều.

Khéo nhập gia tuỳ tục

Là một nhà quản lý đặc hiệu của phương Tây nhưng đã tỏ ra là người rất biết cách thích nghi với môi trường thử thách mới tại Nhật. Ngay từ những ngày đầu tiên làm việc tại Nissan, Carlos Ghosn đã hǎm hở học ngay tiếng Nhật với một quyết tâm hiếm có.

Thư ký của ông kể lại, dù rất bận rộn với đủ việc và các cuộc hẹn nhưng Ghosn vẫn dành 90 phút mỗi tối để học tiếng bản địa. Cho dù ngôn ngữ làm việc chính tại Nissan là tiếng Anh nhưng Carlos Ghosn ý thức được rằng để có được hiệu quả công việc như ông mong muốn thì cũng cần phải giao tiếp được với các cộng sự người Nhật bằng tiếng bản địa của họ. Tháng 6 nǎm 1999, các cổ đông của Nissan đã có một ấn tượng rất tốt về vị Chủ tịch kiêm Tổng giám đốc của mình khi Carlos Ghosn đã có một bài phát biểu tâm huyết bằng tiếng Nhật "xịn" tuy chỉ dài có hơn hai phút.

Có thể nói Carlos Ghosn đã thành công với Nissan không chỉ vì ông đã giảm được chi phí tối đa mà quan trọng hơn là ông đã tạo được một mối quan hệ tối ưu với đội ngũ cộng sự và nhân viên người bản địa. Vừa tin cậy, cảm thông, nhưng lại vừa rõ ràng và đầy đủ về thông tin.

Đa số nhân viên của Nissan nói rằng làm việc với Carlos Ghosn rất vất vả nhưng lại không thấy quá cǎng thẳng vì ông thích đùa, và biết đùa đúng lúc, đùa cả bằng tiếng Nhật. Ai cũng biết người châu Âu thường có ngày nghỉ phép rất lớn và không phải luôn luôn có tinh thần làm việc cật lực quên mình như người Nhật. Và Carlos Ghosn cũng đã tận dụng tối đa điều đó, nhất là trong bối cảnh khó khǎn của Nissan trước nguy cơ bị phá sản. Đích thân ông đã làm gương cho nhân viên.

Người ta thấy rằng một ngày làm việc của Carlos Ghosn bắt đầu từ 7 giờ sáng và không bao giờ kết thúc trước 22 giờ. Quyết đoán và táo bạo trong việc thẳng thừng cắt giảm nhân viên nhưng Carlos Ghosn rất khéo léo trong đối nhân xử thế khi làm việc tại Nhật.

Ông biết không chỉ các cộng sự, nhân viên mà còn hàng triệu người Nhật khác từ chính khách đến doanh nhân, báo giới đều rất đang chǎm chú quan sát xem ông làm những gì để cải tổ Nissan như đã cam kết. Mặc dù Nissan trong thời trước Carlos Ghosn được quản lý rất tồi nhưng ông không hề có những chê bai, đánh giá kém làm thương tổn đến lòng kiêu hãnh của người bản xứ.

Dù gì thì Nissan cũng là một thương hiệu của một doanh nghiệp Nhật có giàu truyền thống. Những gì không cần thiết hay cần gấp phải thay đổi tại Nissan, Carlos Ghosn cố gắng giữ nguyên như cũ. Mọi bố trí, trang bị tại các vǎn phòng làm việc của Nissan không hề có thay đổi gì dù người điều hành cao nhất đến từ châu Âu.

Kể cả bản thân phòng làm việc riêng của Chủ tịch Carlos Ghosn cũng không hề có sự suy chuyển nhiều. Vẫn bộ bàn ghế cũ, vẫn tủ, vẫn điện thoại đó,... Sự tinh tế, nhạy cảm trong xử thế của Carlos Ghosn đã thật sự được "tâm phục, khẩu phục". Những định kiến của cộng sự, nhân viên người Nhật về một phong cách quản lí điều hành hoàn toàn theo kiểu châu Âu đã dần biến mất. Carlos Ghosn đã biết chấp nhận những cái mà ông cho là nhỏ nhặt để dễ thực hiện những đổi mới quan trọng.

Khác với trước kia trong các cuộc họp chỉ có một giải pháp duy nhất được đem ra đánh giá và quyết định thì nay Carlos Ghosn yêu cầu các cộng sự phải luôn đưa các phương án, giải pháp khác nhau để so sánh. Giám đốc nghiên cứu sản phẩm mới Takaski Sakai kể lại, trước kia cứ mỗi kỳ chúng tôi chỉ thiết kế một mẫu xe Nissan rồi thảo luận về chúng.

Còn ngày nay mỗi khi họp quyết định sản phẩm mới Carlos Ghosn đều yêu cầu phải có đồng thời nhiều mẫu xe cùng loại để cùng so sánh, bàn luận. Các cộng sự người Nhật phải thừa nhận ý tưởng và quyết định của Carlos Ghosn là đúng đắn và hiệu quả khi những người làm công tác Marketing cũng được tham gia thảo luận về các mẫu mã xe để có những chiến lược bán hàng phù họp cho từng đối tượng, từng loại xe.

Cũng chỉ trong thời gian rất ngắn đứng đầu tập đoàn Nissan, Carlos Ghosn đã làm thay đổi đáng kể bộ sựu tập mẫu mã xe của Nissan. Không chỉ đơ thuần là đa dạng hoá mẫu mã mà khách hàng còn thấy ở các loại xe Nissan một sự sống động, hấp dẫn mà trước đó không hề có. Người ta nói rằng xe Nisan là sự kết hợp hài hoà giữa tính n ǎ ng tối ưu Nhật Bản và hình thức rất vui nhộn, trẻ trung kiểu Pháp.

Tập đoàn Nissan dưới thời Carlos Ghosn cũng đồng thời vừa có được một n ǎ ng suất lao động cao của Nhật Bản và một chiến lược marketing dài hạn kiểu Pháp. Sang nǎm 2002 Nissan đã cân đối đươc các món nợ và lần đầu tiên có lãi. Tuy thế Carlos Ghosn vẫn khiêm tốn cho rằng mọi sự vẫn còn ở phía trước. Giành lại vị thế cũ trước kia của Nissan là chưa đủ với Carlos Ghosn. Ông còn có tham vọng tiếp tục đưa Nissan thành tập đoàn ô tố số 1 thế giới với rất nhiều mẫu mã xe mới đang được nghiên cứu phát triển và chuẩn bị đưa vào sản xuất.

(Theo VnEconomy)

Steve Jobs - ông trùm thế lực!

Trong tuyển tập chân dung 100 nhân vật có ảnh hưởng nhất thế giới xuất bản giữa tháng 5 vừa qua, tạp chí Time nhận xét Steve Jobs của Tập đoàn Apple là "Người đập phá thần tượng trong thời đại công nghệ thông tin nhưng bản thân đã trở thành một thần tượng".

Steve Jobs - ông trùm thế lực!

Chẳng phải ngẫu nhiên mà tuần báo BussinessWeek gần đây đã gọi Apple là một hành tinh mới và Steve Jobs chính là người tạo ra hành tinh ấy.

Theo truyền thống mỗi năm Time đều chọn ra những nhân vật nổi bật nhất hành tinh trong nhiều lĩnh vực khác nhau và đến nay Steve Jobs đã ba lần xuất hiện trên "bảng danh dự" ấy - năm 2004, 2005 và năm nay 2007. Có điều, mỗi lần xuất hiện, Steve Jobs lại là một con người khác - từ một người khởi nghiệp nhìn xa trông rộng sang một Steve Jobs lưu đày và thất bại để rồi trở thành một Steve Jobs - ông trùm đầy thế lực.

Năm nay bản thành tích của Steve Jobs khá dài: Ông mới cho ra đời bộ giải mã truyền hình internet AppleTV và điện thoại di động iPhone, lập nên một kỷ lục mới khi bán được 100 triệu chiếc máy nghe nhạc iPod, đưa doanh số tiêu thụ máy tính Macintosh tăng 36% trong nửa đầu năm nay và đến tháng 10 sẽ cho trình làng Leopard - bản nâng cấp của hệ điều hành OS X nổi tiếng.

Với Steve Jobs, mỗi sản phẩm của Apple đều có sức lay động như một trận động đất. Nửa triệu chiếc điện thoại di động iPhone đã được bán hết trong hai ngày đầu tiên ra mắt tại thị trường Mỹ - dự kiến từ nay đến cuối năm sẽ có 2 triệu người xài iPhone - là một hiện tượng chưa từng có.

Hàng loạt công ty công nghệ mua điện thoại iPhone chỉ để "banh" ra, coi thử nó có gì bên trong mà bán với giá 500 đôla Mỹ trong khi giá thành sản xuất chỉ khoảng 220 đôla. Một lần nữa tài năng của Steve Jobs lại được giới công nghệ bàn tán với niềm khâm phục.

Thăng trầm của một thiên tài

Tuy vậy, Steve Jobs chưa quên những thách thức khủng khiếp mà ông phải đối mặt khi quay về lãnh đạo Công ty Apple đúng 10 năm trước. Là người đồng sáng lập nên Apple Computer Co. nhưng do bất đồng ý kiến, Steve Jobs bị gạt ra khỏi bộ máy lãnh đạo doanh nghiệp mà ông có công sáng lập.

Đến khi Apple rơi vào tình huống "ngàn cân treo sợi tóc" vì không cạnh tranh nổi với liên minh giữa Microsoft và Intel thì Jobs được "vời" trở lại. Ông đối mặt với một thị trường tiêu thụ máy tính Mac teo tóp dần, chi phí tăng như tên lửa, két tiền trống rỗng còn nhân tài thì lần lượt đi đầu quân cho các hãng khác.

Trong hoàn cảnh đó Steve Jobs đã làm một chuyện ngược đời: bắt tay đối thủ. Ông mời Bill Gates, Chủ tịch tập đoàn Microsoft, thảo luận một "hiệp định hoà bình", theo đó Apple đồng ý bãi bỏ mọi khiếu kiện về bản quyền đối với Microsoft, đổi lại Bill Gates phải bồi thường 150 triệu đôla và cam kết xây dựng phần mềm Office - sản phẩm chủ lực của Microsoft tương thích với máy tính Mac.

Cho đến lúc đó, mặc dù Apple vẫn nổi tiếng là nhà sản xuất loại máy tính tốt nhất thế giới nhưng số lượng các phần mềm (software), phụ kiện (add-on gear) cho máy tính Mac vẫn rất ít ỏi. Phương châm của Steve Jobs là: "Apple sống trong một hệ sinh thái, nó cần sự hỗ trợ của các đối tác và nó cần hỗ trợ các đối tác", ông nói. Chiến thuật "thêm bạn bớt thù" với Microsoft nằm trong ý hướng đó.

Ngày nay "hệ sinh thái" Apple không còn là một ốc đảo bị giới công nghệ xa lánh để chạy theo Microsoft. Năm ngoái hơn 200.000 công ty phần mềm đăng ký viết những chương trình tương thích với thiết bị của Apple, tăng 26% so với năm trước đó. Trong số này có không ít các đại gia như nhà sản xuất trò chơi Electronic Arts, nhà sản xuất phần mềm doanh nghiệp VMware... Họ bị lôi cuốn bởi sự kiện lượng máy Mac bán ra tăng nhanh gấp ba lần so với mức tăng bình quân của thị trường máy tính nói chung.

Chung quanh chiếc máy nghe nhạc iPod nhỏ xíu cũng đã hình thành một thị trường phụ kiện giá trị nhiều tỷ đôla. Năm nay, khoảng 70% số xe hơi sản xuất tại Mỹ có lắp sẵn điểm cắm máy iPod, 100.000 ghế máy bay cũng vậy. Còn siêu thị âm nhạc trực tuyến iTunes của Apple đã trở thành nhà bán lẻ âm nhạc lớn thứ ba thế giới, chỉ sau Wal-Mart và Best Buy.

Là một, là riêng, là thứ nhất

Đâu là bí quyết xoay chuyển tình thế của Steve Jobs? Nói ngắn gọn đó là "cách tân", là "đổi mới". Lịch sử phục hồi của Apple cho đến nay là một chuỗi những công cuộc đổi mới thành công. Nếu iPod và iTunes làm biến đổi hoàn toàn cung cách nghe nhạc của thế giới thì người ta hy vọng iPhone sẽ "làm lại" (remake) công nghiệp điện thoại di động qua việc quyết định khách hàng sẽ được hưởng những tiện ích gì mà không cần tới các công ty cung cấp dịch vụ.

Một lẽ đơn giản, iPhone không chỉ là điện thoại mà tập hợp "4 trong 1": điện thoại, máy duyệt Web, máy nghe nhạc, máy quay phim; hoạt động trên nền một loạt công nghệ mang tính cách tân mạnh mẽ của Apple, từ trình duyệt Safari, siêu thị âm nhạc iTunes đến phim ảnh YouTube mà Apple vừa ký hợp đồng hợp tác. Có thể nói, iPhones ra đời ngày 29/6 vừa qua là "tập đại thành" hai thập kỷ nghiên cứu, đổi mới liên tục về công nghệ và thiết kế của Apple.

Hơn thế nữa, iPhone mở đầu cho một xu hướng mới trong công nghệ viễn thông và giải trí. Chẳng bao lâu nữa người tiêu dùng sẽ không còn bận tâm tới việc chọn nhà cung cấp dịch vụ, chuyển vùng, thận chí không cần thiết bị đầu cuối vì gần như mọi nhu cầu liên lạc và giải trí đều có thể được giải quyết trên thiết bị của Apple và internet. Khi iPhone trình làng, các nhà sản xuất điện thoại như Nokia và Motorola, các công ty viễn thông như Verizon, Vodafone đang chờ xem mặt đất dưới chân mình sẽ sụp đổ như thế nào.

Ở một giác độ khác, các nhà cung cấp hàng đầu nhiều mặt hàng công nghệ, từ vi mạch điện tử đến phim ảnh Hollywood đều cảm thấy áp lực phải liên kết với Steve Jobs; có nghĩa là phải chấp nhận từ bỏ một phần sự độc lập của mình trong hoạt động thiết kế và định giá sản phẩm.

Sắp qua rồi thời thống trị của Wintel - chiếc máy tính "Intel Inside" xài hệ điều hành Windows - do hai đại gia Intel và Microsoft xác lập "tiêu chuẩn" mà hàng vạn công ty khác phải theo để làm ra những sản phẩm tương thích với bộ khung (platform) này.

Với Apple, khái niệm platform không còn nữa. "Khách hàng không mua bộ khung (platform), họ chỉ mua sản phẩm tốt", Steve Jobs nói. Theo ông, ý tưởng về bộ khung là tàn dư của cách nhìn thế giới theo kiểu máy PC (very PC - oriented way of looking at the world). Đổi lại, Apple tập trung làm ra những sản phẩm tốt nhất hoạt động trên nền Web 2.0 sắp phổ biến - và đấy là bí quyết thứ hai của ông.

Khi Apple cho ra đời chiếc máy iPod đầu tiên năm 2001, thị trường máy nghe nhạc MP3 đã rất sôi động. Nhưng iPod Shuffle, rồi iPod Nano vẫn vượt lên, bỏ xa cả Sony Walkman là tên tuổi đáng kính trong làng máy nghe nhạc bỏ túi. Bây giờ, iPhone ra đời khi thị trường đã được phân chia giữa các tên tuổi như Palm, Blackberry, Nokia, Sony Ericsson và Motorola - mỗi năm thế giới tiêu thụ không dưới 25 triệu máy điện thoại có chức năng duyệt Web và nhận e-mail như iPhone.

Nhưng không dòng máy nào dựa hẳn lên Internet và do đó không thu hút được sự quan tâm của khách hàng như iPhone. iPhone còn hứa hẹn giải quyết tốt những cơn đau đầu mà người sử dụng điện thoại PDA hiện đang đối mặt. Bài học của Steve Jobs là hãy làm ra những sản phẩm thật tốt, tiền bạc và danh vọng sẽ theo sau.

Hấp tinh liệu pháp

Để làm ra sản phẩm tốt, theo Steve Jobs trước tiên cần có đội ngũ những người giỏi. Ông vẫn thường bị phê phán là quá khắc nghiệt trong việc chọn đối tác, không "đối xử bình đẳng" mà chỉ chơi với những công ty thật sự xuất sắc và chỉ tập trung thu hút những người giỏi nhất.

Trong 200.000 công ty phần mềm đăng ký sản xuất chương trình cho Apple, Steve Jobs chỉ "chơi" với những thiên tài như Google trong lĩnh vực tìm kiếm, YouTube trong chia sẻ video hoặc Electronics Arts trong trò chơi game. Đối với khách hàng cũng vậy, sản phẩm của Apple không dành cho thị trường rộng rãi theo nghĩa là ai cũng mua được, xài được mà là "hàng hiệu" biểu thị "đẳng cấp" của người sở hữu nó.

Lấy ví dụ, một cái máy Mac giá thấp nhất khoảng 1.400 đôla, gấp đôi giá cái máy PC có cùng tính năng, máy nghe nhạc iPod có giá trung bình khoảng 181 đôla tại thị trường Mỹ trong khi chỉ cần 1/3 số tiền đó có thể mua được một máy nghe nhạc MP3 tương tự của một hãng khác. Mới đây nhất dân ghiền xếp hàng nhiều ngày để mua điện thoại iPhone với giá 499 đôla trong khi một cái điện thoại bình thường có giá 66 đôla, và với 160 đôla đã có thể mua được máy điện thoại có tính năng truy cập web như 02, Blackberry hay Palm Treo.

Nhưng thành công của Jobs không xây dựng trên sự lập dị. Trước sau ông vẫn coi Apple là một thành phần trong một hệ sinh thái; thành công của Apple chủ yếu dựa vào sự thu hút các ưu điểm của các đối thủ - một thứ "hấp tinh liệu pháp" nếu nói theo ngôn ngữ của tiểu thuyết kiếm hiệp. Như đã nói ở đầu bài, Jobs rất coi trọng cái hệ sinh thái mà trong đó Apple hoạt động và chủ trương hợp tác với Microsoft.

Theo giới quan sát, cho đến nay gần như Bill Gates chưa "kiếm chác" được gì từ sự hợp tác này nhưng Steve Jobs thì thu lợi đáng kể. Bước đột phá diễn ra vào năm 2003 khi Steve Jobs quyết định tung ra phần mềm iTunes tương thích với Windows bất chấp lời can ngăn rằng nó sẽ gây hại cho việc tiêu thụ máy Mac. Thực tế, nhờ iTunes tương thích với Windows mà iPod nhanh chóng trở thành "hot"; 98% số người sử dụng iPod đang dùng máy Windows PC chứ không phải máy Mac.

Một bước đột phá nữa vừa xảy ra khi Steve Jobs quyết định đưa bộ vi xử lý Intel vào máy Mac thay vì chỉ sử dụng bộ xử lý PowerPC do IBM sản xuất như từ trước tới nay. Thay đổi này không chỉ có tác dụng hạ giá thành máy tính Mac mà còn giúp cho máy Mac dễ dàng chạy các chương trình tương thích với Windows và tạo điều kiện cho các nhà lập trình soạn thảo những chương trình mới cho các sản phẩm của Apple.

Cái dao cạo và lưỡi dao cạo

Không chỉ gắn kết với cộng đồng công nghệ thông tin, Apple đang mở rộng mối liên kết sang lĩnh vực giải trí, chủ yếu là âm nhạc và điện ảnh. Mô hình kinh doanh giải trí của Steve Jobs giống như chiếc bàn cạo râu với lưỡi dao cạo: thiết bị của Apple là chiếc bàn cạo râu đắt tiền, trong khi tác phẩm âm nhạc, điện ảnh, truyền hình là những lưỡi dao cạo rẻ tiền lắp vào chiếc máy cạo râu ấy.

Hiện thời siêu thị iTunes của Apple thu 99 xu (cent) mỗi bản nhạc mà người dùng tải xuống, trong đó phần bản quyền của các công ty ghi âm chỉ là một khoản nhỏ. Với 100 triệu máy iPod đã bán ra thị trường, chưa kể hàng trăm triệu máy tính cá nhân đã cài đặt iTunes, kinh doanh nhạc số là thị trường béo bở và đầy triển vọng.

Từ khi hãng xe hơi BMW thiết kế khe chứa iPod trên các mẫu xe từ đời 2004 trở về sau, các hãng xe khác cũng bắt chước theo, đến nay thì GM, Ford, Chrysl er và Honda đều dành cho iPod một vị trí đặc biệt trong các mẫu xe hơi mới của mình.

Để chuẩn bị cho AppleTV và iPhone, Apple đã hợp tác với Google để cải tiến YouTube - trang web cung cấp video trực tuyến lớn nhất mà Google vừa mua lại với giá 1,6 tỷ đôla. Cho đến nay, Apple đã bán được 52 triệu bản phim và chương trình truyền hình, gây nên nỗi lo sợ trong các nhà kinh doanh điện ảnh kiểu truyền thống, Apple có ý đồ bắt tay trực tiếp với các hãng phim để đưa nội dung lên Internet và chuyển tới các thiết bị giải trí của Apple mà không cần đến rạp chiếu bóng hay đĩa DVD quen thuộc.

Một hệ thống giải trí gia đình iHomeTheatre tiếp nối con đường của iPod - iPhone đã bắt đầu hình thành trong ý tưởng của Steve Jobs, đến lúc ấy chiếc vé xem phim, thậm chí cái đầu đọc DVD sẽ chỉ còn trong trí nhớ.

Những ngày này Hollywood đang hình thành một liên minh các nhà kinh doanh điện ảnh để chống lại Steve Jobs, nhưng rất khó. Ngoài Apple Computer Co., Steve Jobs còn là cổ đông lớn nhất của Walt Disney và đã lôi kéo được Paramount Pictures làm đối tác của iTunes. Xu thế cho thấy các hãng phim sẽ không cưỡng lại được sức hấp dẫn của Apple.

Cung cách thưởng thức nghệ thuật thứ bảy của loài người chẳng bao lâu nữa sẽ thay đổi tận gốc khi Internet trở thành kho phim vô tận và chiếc máy iHomeTheatre đưa rạp chiếu phim vào tận phòng ngủ của từng gia đình.

Rõ ràng Steve Jobs là một quái kiệt trong thế giới số. Chẳng phải ngẫu nhiên mà tuần báo BussinessWeek gần đây đã gọi Apple là một hành tinh mới và Steve Jobs chính là người tạo ra hành tinh ấy".

(Theo DanOng)

Khách Truy Cập Trong Ngày

PCR Designs Group

Giải Pháp Kinh Doanh

Thiết Kế Website

Quản Trị Website

Quảng Bá Website

Thương Mại Điện Tử

Thông Tin Chứng Khoán